Dedicated server denmarkthụcommentcầu huyết bạch       khuẩnchốngSuper cheap vpstừtránh

http://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/06/NEEM_thongtintoantap-300x155.gif

PHẦN II

 Do Ban Quản Trị trang web www.usingneem
*Soạn thảo: tiến sĩ Sheila Sperber Haas
*Lời giới thiệu: bác sĩ Mitchell A. Fleisher

Kim-Tuyến chuyển ngữ
kimtuyen321@yahoo.com

 

1.AIDS

        Khó mà nắm bắt và ghi thành văn bản nhiều báo cáo của người dân đó đây dùng neem để điều trị bệnh AIDS và điều trị các triệu chứng của nó trong gần 20 năm nay. Chắc chắn còn chờ rất lâu vào  y khoa hiện đại chế  ra các loại thuốc kháng virus chữa trị bệnh AIDS mà bệnh nhân ở nhiều nước không thể mua được vì đắt tiền. Có hai nghiên cứu đã xác nhận tin truyền miệng về liệu pháp thay thế hợp với túi tiền của hàng triệu người bệnh nghèo trên thế giới.

        *Nghiên cứu thứ nhất trong 30 ngày (tiến hành với sự hợp tác của Đại học Y Khoa Howard, Đại học Nigeria và một phần tài trợ của một cơ quan chính phủ Mỹ) về hoạt động của chiết xuất lá neem trên bệnh ung thư, sốt rét và HIV. Nghiên cứu cho thấy neem ngăn chặn các ký sinh trùng gây sốt rét, và vi rút gây ra AIDS không bám vào tế bào con người, và ngăn chặn tế bào ung thư di căn không để cho gắn liền vào mô khỏe mạnh được.

        Nghiên cứu này cũng cho thấy rõ hoạt động kháng vi rút ở người. Các chỉ số cải tiến đáng kể nơi 10 bệnh nhân HIV / AIDS tình nguyện: gia tăng số lượng tế bào CD4 , tăng lượng hồng huyết cầu hơn 20%, và tăng cân trung bình được 3kg. Đặc điểm các triệu chứng tiêu biểu của bệnh AIDS như tiêu chảy và bệnh nấm được giải quyết hoàn toàn. Không có phản ứng bất lợi do neem được báo cáo trong suốt thời gian nghiên cứu hay thời gian tiếp tục theo dõi và khám nghiệm kế tiếp.

        *Nghiên cu th hai trong 12 tuần, được công bố trên Tạp chí Mỹ Về  Các Phương Pháp Chữa Bệnh (American Journal of Therapeutics), cho kết quả còn ấn tượng hơn. Số CD4 tăng bình quân 159% trên 50 bệnh nhân theo suốt chương trình. Ngoài ra các chỉ số về sức khỏe khác cũng tốt: tăng cân, tăng hồng huyết cầu, và tỉ số đóng cặn (lower sedimentation) giảm 20%. Các sản phẩm neem không có tác dụng phụ và không có bất thường trong chức năng của thận hoặc gan.

        (Các thành viên của usingneem.com không đề nghị rằng người được chẩn đoán HIV / AIDS dùng neem hoặc bất kỳ loại thuốc dược thảo khác để thay thế việc điều trị căn bệnh hiểm nghèo như AIDS.)

Báo cáo từ người dùng Neem

        Tháng sáu năm 2004 tôi được chn đoán nhim HIV dương tính. K t đó tôi bắt đầu tìm hiểu về dược thảo và các phương pháp chữa bệnh khác (alternative therapies). Tôi đã kinh ngc và hoàn toàn b choáng ngp bi các tài liệu phong phú này.

        Không ging như hu hết các người bị nhiễm HIV, tôi không bao gi uống bất cứ loại thuốc tây nào, cũng không uống aspirine trong gần hai năm qua. Tôi đã quyết định dồn nỗ lực và năng lực tập trung vào chế độ ăn uống cân bằng, thể dục đều đặn, và nghiêm nhặt trong việc giải độc và thanh lọc cơ thể. Hơn nữa, tôi muốn thử nghiệm trên chính mình để định gía trị các hiệu quả của những thứ được gọi là “Thực phẩm thần hiệu/Dược thảo thần hiệu” chẳng hạn như nhựa dầu (oleoresin) của cây copaiba vùng Nam Mỹ, rễ ashwagandha của Phi châu, goji berry của trung Quốc và Tây Tạng, công thức 8 dược thảo cho Trà Essiac của bộ lạc Ojibwa bên Canada, và nhiều loại chiết xuất từ cây neem Ấn Độ. Tôi thu thập những tài liệu này trong các tạp chí suốt tiến trình chữa bệnh của tôi.

        Tôi đã khám phá nhiều lợi ích tuyệt diệu cho sức khỏe của cây neem. Từ khi dùng neem, sức khỏe tổng quát của tôi đã tăng lên thấy rõ, bao gồm: năng lực, sức chịu đựng, sự nhạy bén trí tuệ, sự bình tĩnh, da dẻ tươi tốt, tiêu hóa hài hòa, hệ miễn nhiễm có khả năng đẩy lui các nhiễm trùng.

        Tôi dùng dầu neem nguyên chất để thoa những nơi nhiễm trùng cấp tính, và pha loãng với dầu mè để massage hàng ngày. Tôi cũng đã thuyết phục  được nhiều bạn và gia đình dùng dầu neem , họ đáp ứng thật nhiệt tình. Ngoài ra, tôi và người bạn thân uống trà neem có được kết quả tuyệt vời.

        Craig X, Fort Lauderdale, FL
        (Xem báo cáo đầy đủ hơn của Craig trong trang web  www.usingneem.com / AIDS.)

 

2.Một danh sách dài chất “chống…” của neem  (“Anti’s” — A Long List)

        Khi các nhà nghiên cứu vừa bắt đầu chú ý đến neem khoảng 50 năm trước đây, họ cẩn thận phân tích chi tiết các hoạt động sinh học của từng  bộ phận lá, hoa, quả, hạt, vỏ của cây neem. Các phân tích này, tất nhiên, không lưu hành sẵn bên ngoài, ngoại trừ trong các thư viện chuyên ngành y tế. Các báo cáo hiện tại thường lưu ý neem được công nhận có một danh sách dài các “chất kháng” bao gồm:

• Chống viêm • Anti-inflammatory

• Chống viêm khớp • Anti-arthritis

• Hạ nhiệt (sốt) • Anti-pyretic (fever)

• Chống loét dạ dày • Anti-gastric (ulcer)

• Chống nấm (xem bài dưới đây) • Anti-fungal

• Chống vi khuẩn • Anti-bacterial

• Chống virut • Anti-viral

• Chống khối u • Anti-tumor

• Chống histamine • Anti-histamine

• Anti-feedant • Anti-feedant

• Chống oxy hóa • Anti-complement (similar to antioxidant)

• Phòng tránh thai • Anti-fertility

• Chống ung thư • Anti-carcinogenic

• Chống lo âu • Anti-anxiety

        Mặc dù nhiều trong số “ chất chống” này được đề cập trong phần cụ thể riêng, chúng tôi đưa vào phần về nấm Candida âm đạo ở đây bởi vì nó ảnh hưởng đến rất nhiều phụ nữ và nấm có thể đề kháng mạnh với thuốc điều trị tiêu chuẩn.
Báo cáo từ người dùng Neem
        Là một bác sĩ chữa bệnh trên toàn diện ( holistic practitioner), tôi đặc biệt thất vọng khi tôi không tự chữa lành cho mình được. Tôi bị nhiễm nấm dai dẳng. Triệu chứng nhiễm nấm bắt đầu trong tuần đầu tiên tháng 9 năm 2007: đau rát, nóng ngứa, đau khi giao hợp, và rất khó chịu ở âm đạo. Tôi bị dị ứng với kem Monistat ®, vì vậy không dùng cách điều trị này được.

        Ngày 5 tháng 9 tôi đã bắt đầu phương thức điều trị sau: ăn yao-ua không đường, không ăn ngọt, không uống rượu, và uống thuốc Dilfucan ®. Hai tuần sau đó các triệu chứng của tôi bắt đầu giảm bớt, nhưng không hết.

        Vì vậy, tôi đã thử tiếp hai loại kem: Thuốc mỡ ® Tioconazole và kem Clotrimzaole. Triệu chứng của tôi phai dn nhưng không bao gi khỏi hoàn toàn. Cui cùng tôi uống Dilfucan ® lại trong hai tun, ngưng hai tuần rồi lại uống tiếp.

        Ngày 4 tháng 10, mt tháng sau khi tôi đã bt đu lot điu tr này, tôi gi bác sĩ ph khoa  (gynecologist) đ được xét nghiệm xem tôi có bị nhiễm trùng (bacterial infection) hay không. Bác sĩ nghĩ rng kh năng tôi b nhim trùng nên cho mt loi kem kháng khun. Triu chng ca tôi vn tiếp tc.

        Ngày 9 tháng 10, kết quả xét nghiệm cho biết tôi không bị nhiễm trùng mà là nhiễm nấm (yeast) nhẹ. Điều trị vẫn là uống Dilfucan ® trong vài tháng ( theo chu kì hai tuần uống, hai tuần ngưng). Hai tun đu tiên ca chu kỳ gn như không có tác đng đến triu chng ca tôi.

        Sau đó, mt bác sĩ khác đ ngh tôi dùng du neem.

        Ngày 13, 14 và 15 tháng 10, sau khi mi th khác đã không hiu qu, tôi bt đu phương cách mới, lấy bông gòn thấm dầu neem và cho vào trong âm đạo ngày hai lần chỉ trong 3 ngày. Triu chng ca tôi đã gần như biến mt sau ngày th hai, và đến ngày th ba thì các triu chng đã hoàn toàn khỏi hẳn. Tôi s không bao gi s dng bt c loại nào khác, ngoài neem, tôi khuyên các bnh nhân ca tôi sử dụng dầu neem cho các triu chng nhiễm nấm men.

        Ẩn danh, theo yêu cu

 

 

3.CHẤT CHỐNG OXY HÓA (ANTIOXYDANTS)

 

        Một trong những chủ đề nóng nhất trong ngành công nghiệp thực phẩm tự nhiên là chất chống oxy hóa, có lẽ vì nó đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các bệnh suy thoái mãn tính như xơ vữa động mạch, tiểu đường, bệnh tim, Alzheimer, Parkinson và lão hóa sớm.

        Xáo trộn trong hoạt động khử oxy hóa (Stress oxy hóa) là một quá trình tự nhiên xảy ra khi các tế bào sản xuất năng lượng. Các gốc tự do sinh ra từ  quá trình này, làm tổn thương các tế bào (kể cả DNA) và mô.

        Xáo trộn trên xảy ra khi các nguồn lực của cơ thể không đầy đủ để dập tắt các gốc tự do hay sửa chữa những thiệt hại do gốc tự do gây ra.

        Chất chống oxy hóa có trong nhiều loại thực phẩm như quả việt quất (blueberries), bông cải xanh (broccoli), và nam việt quất (cranberries) trực tiếp liên quan đến mực độ chất chống oxy hóa của của nguồn lực này.

        Các thử nghiệm năng lực hấp thụ gốc tự do ( ORAC: oxygen radical absorbance capacity) mô tả trên online tại www.usingneem.com , cho thấy tất cả các thành phần của cây neem có chất chống oxy hóa vượt thật xa hơn các loại thực phẩm trong danh mục chất chống oxy hóa cao. Cùng với các đặc tính thúc đẩy hệ miễn nhiễm, nồng độ chất chống oxy hóa cao có thể giúp giải thích tại sao cây neem được biết đến trên toàn thế giới là “làng dược.”

Năng lực hấp thụ gốc tự do (ORAC) mỗi gam chất dinh dưỡng:

Quả việt quất Blueberries 62
Bông cải xanh Broccoli 16
Cranberry 95
Bưởi Grapefruit 15
Vỏ cây Neem Neem Bark 476
Lá Neem Neem Leaf 357
Dầu Neem Neem Oil 430
Trích xuất neem Neem/Supercritical Extract (8% trong dầu mè) 114
Mận Plums 62
Rau bina Spinach 26
Cà chua Tomatoes 5

 

4.HỢP CHẤT KHÁNG SIÊU VI (ANTIVIRAL COMPOUNDS)

        Từ bệnh cảm lạnh thường đến viếng các văn phòng làm việc và khu dân cư mỗi mùa đông đến bệnh AIDS, bệnh sốt rét West Nile và cúm gia cầm, nhiễm siêu vi là một trong những vấn đề mà các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới phải đối đầu với. Neem là một tác nhân kháng virus truyền thống, với nhiều hứa hẹn qua các nghiên cứu trên động vật và trong phòng thí nghiệm.

        Trong khi các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định chính xác cách neem hoạt động trong lĩnh vực này, người ta cho rằng các hợp chất trong neem có khả năng cản trở virus sinh sản. Với các virút bệnh AIDS, nhiều phức tạp hơn, nghiên cứu cho thấy neem dường như cản trở khả năng tự gắn vào màng của tế bào của virut nên virut không xâm nhập vào tế bào được.

        Từ một quan điểm tổng quát hơn, neem cũng sẽ giúp bạn cảm thấy tốt hơn nhanh chóng bởi vì nó làm tăng sản xuất bạch huyết cầu, có chứa nhiều loại tế bào khác nhau của hệ miễn nhiễm như: tế bào kháng thể (antibodies), tế bào nhận diện quân ngoại xâm (dendritic cells), tế bào T đi giết quân ngoại xâm (natural killer T cells), và một số loại tế bào ghi nhớ T (memory T cells). Tất cả tham gia trong việc tiêu diệt vi rút xâm nhập vào trong máu của bạn.

        Một nhóm nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới chsưng minh rằng neem:
• cung cấp nguồn bảo vệ đáng kể chống lại virut herpes simplex-2 ở chuột,
• ức chế sự phát triển của virus sốt xuất huyết Dengue, gây sốt xuất huyết có liên quan đến virut nguy hiểm Ebola ở Phi châu,
• can thiệp vào sự sinh sản của virut coxsackie B, sau các bệnh “cảm lạnh thông thường”, là tác nhân lây nhiễm bệnh cảm lạnh ở người.

Báo cáo từ người dùng Neem

        1-Neem đã thay đi cuc sng ca tôi, và tôi có thể chia sẻ hàng gi các câu chuyn kinh nghim t nhng người khác. Tôi đã biết nhiều ln dầu neem đã ngăn không cho vết giời leo lây lan và làm nó biến mất cả ở miệng hay ở bộ phận sinh dục. Trà lá neem đã ngăn chặn không cho virut herpes tái xuất.

        Donna CS

        2-Tôi đã quen với nhng cơn tái phát ca bnh zona trong nhng năm qua, do đó khi bệnh zona mới xuất hiện vào L T Ơn vừa rồi, tôi biết nhng gì sẽ xy ra. Tôi không th gp bác sĩ để kê toa thuôc kháng sinh vì là lễ nghỉ, nên tôi uống mỗi ngày 3 ly trà neem, trong ba ngày. Tôi biết rằng tôi đã uống nhiều hơn liều khuyến cáo, nhưng nó đã giúp tôi khỏi bnh gii leo nhanh chóng, nhanh hơn nhiều so với các thuctoa đt tiền.

        Faith C., St. Petersburg, FL

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*