Bí quyết sống khoẻ mạnh

Ung thư vì điện thoại di động

Ung thư vì điện thoại di động

Không nên cất điện thoại di động trong túi quần, hay áo lót ngực (phái nữ)

“Không nên để điện thoại trong túi quần” – đó là lời khuyên chúng ta vẫn thường nghe thấy hàng ngày. Tuy nhiên sự thực thì chẳng mấy ai trong chúng ta thực hiện được điều đó. Đơn giản là vì trong thời đại “sống gấp” như hiện nay, điện thoại di động là một thứ không thể thiếu. Nếu như để điện thoại trong cặp, túi xách… bạn có thể lỡ tin quan trọng bất kỳ lúc nào. Thêm vào đó, hầu hết các mẫu điện thoại được thiết kế sao cho có thể đút vừa vặn vào túi quần, nên đây có thể được xem là lựa chọn tối ưu để cất giữ “người bạn đồng hành” này.

Mà không chỉ túi quần đâu. Những cô gái tại các nước phương Tây còn hay để điện thoại ở phần ngực.

Nhét điện thoại vào áo ngực là một trong những thói quen phổ biến của các “nữ nhi” trên thế giới. Tuy nhiên quay trở lại với lời khuyên đầu tiên, bạn cần biết rằng lời khuyên đó hoàn toàn chính xác, vì thói quen cất điện thoại trong túi quần, túi ngực, trong… áo lót đều để lại hậu quả khôn lường.

Sóng điện thoại là một loại “bức xạ” có hại

Đó là lời tuyên bố của tiến sĩ Devra Davis – nhà dịch tễ học người Mỹ. Davis cho biết bà bắt đầu nghiên cứu khi trào lưu cất điện thoại trong áo ngực lan rộng trong các trường cấp 3 tại Mỹ. Còn tại sao cất trong áo lót ư? Đó là vì các cô gái thường mặc váy đi học nên không có túi.

Trong quá trình nghiên cứu, tiến sĩ Davis có nhắc đến một trường hợp đặc biệt về người phụ nữ trẻ bị mắc ung thư vú. Điểm đáng lưu ý ở đây là hình dạng của khối u trùng hợp với hình dáng của… chiếc điện thoại di động. Thêm nữa, bầu ngực có khối u cũng chính là bên ngực cô thường cất điện thoại bên trong.

Vị trí của khối u trùng khớp với vị trí cô hay cất điện thoại di động

Dù vẫn chưa thể tìm ra mối liên hệ cụ thể, các bằng chứng vẫn cho thấy thói quen để điện thoại gần cơ thể có thể gây những tác hại khôn lường.

Theo giáo sư Davis: “Việc hình dáng của khối u có sự trùng hợp kỳ lạ với chiếc điện thoại khiến tôi thực sự lo ngại về những gì chúng ta có thể đang phải chịu đựng khi tiếp xúc với điện thoại thường xuyên” .

Hậu quả khôn lường của sóng bức xạ điện thoại

Theo như tiến sĩ Davis, các hãng sản xuất điện thoại đã khéo léo biến thứ sóng điện thoại phát ra thành một cụm từ khá… hoa mỹ: năng lượng tần số vô tuyến – radio frequency energy. Tuy nhiên, thực chất đây chính là bức xạ vi sóng – microwave radiation – thứ luôn được cho là có tác hại nhất định đến cơ thể.

Tuy nhiên người sử dụng hiện nay chẳng ai biết được sự thật này. Theo Davis, nếu như biết được hàng ngày đang phải giữ một “máy phát bức xạ vi sóng” bên cạnh, có lẽ bạn sẽ phải suy nghĩ lại về chuyện cất điện thoại gần “chỗ nhạy cảm” như túi quần.

Và bạn đừng tưởng đây là chuyện do mấy bác khoa học “rảnh” nghĩ ra. Trên thực tế ngay trong tờ hướng dẫn sử dụng điện thoại iPhone của Apple – một trong những hãng sản xuất điện thoại lớn nhất thế giới cũng có dòng chữ sau:

(Tạm dịch: Nếu để điện thoại ở khoảng cách dưới 15mm như đút vào túi quần, các tiêu chuẩn tiếp xúc điện tử FCC có thể bị vi phạm)

Một số chuyên gia về sức khỏe cũng đồng tình với quan điểm này. Bác sĩ Joseph Mercol – chuyên gia châm cứu hàng đầu của Mỹ cho biết “Việc tiếp xúc thường xuyên với bức xạ điện thoại có thể để lại nhiều hậu quả khôn lường, đặc biệt tại một số khu vực nhạy cảm” .

Có thể thấy một số bằng chứng về tác hại này. Năm 2009, một nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có thói quen để điện thoại trong túi quần thường có vùng xương chậu yếu hơn.

Chưa hết, các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng bức xạ từ điện thoại làm giảm số lượng tinh trùng ở đàn ông, đồng thời có thể gây loãng xương.

Bức xạ điện thoại có thể gây tác hại nhất định đến não bộ

Dù chưa có bằng chứng rõ ràng nhưng các khoa học gia cũng cảnh báo về nguy cơ gây u não khi nghe điện thoại.

Ngoài ra các chuyên gia cũng khuyên bạn không nên sử dụng điện thoại khi đang sạc.

Nên cất điện thoại vào đâu?

Rõ ràng việc cất điện thoại vào túi quần, túi áo hay trong… áo lót là không hề khả thi. Vậy phải cất vào đâu?

Các chuyên gia khuyên rằng phụ nữ tốt nhất nên cất điện thoại trong túi xách. Còn nam giới có thể sử dụng túi đựng điện thoại.

Ngoài ra, các bạn có thể sử dụng tai nghe khi nói chuyện điện thoại để hạn chế bức xạ tác động đến não. Các chuyên gia cũng khuyên rằng không nên sử dụng điện thoại ở những nơi có tín hiệu yếu, vì lúc này là lúc điện thoại phát ra bức xạ mạnh hơn để tiếp sóng.

TĐMVSK sưu tầm

13 thực phẩm giúp chống ung thư hữu hiệu

13 thực phẩm vừa ngon vừa chống ung thư hữu hiệu

Có một vài loại thực phẩm sẽ giúp bạn ngăn ngừa và đẩy lùi căn bệnh ung thư đáng sợ. Bạn hãy tích cực ăn uống những thực phẩm bổ dưỡng sau hàng ngày nhé.

 1. Nấm

Mỗi loại nấm khác nhau có tác dụng khác nhau. Tuy nhiên nhìn chung chúng đều chứa các chất chống ung thư, đặc biệt là hoạt chất betaglucan có khả năng ức chế tác hại của siêu vi gây ung thư, đồng thời trung hòa độc chất sinh ung thư nội tại cũng như ngoại lai.

Do đó, chế độ ăn uống hàng ngày nên được bổ sung đa dạng các loại nấm như mộc nhĩ đen, nấm hương, nấm mỡ, nấm đông cô, ngân nhĩ,…

2. Cà tím

Cà tím được xếp vào nhóm rau quả đứng hàng đầu với hàm lượng vitamin PP và chứa chất Nightshade soda có tác dụng chống ung thư, ức chế sự tăng sinh của khối u trong bộ máy tiêu hóa.

3. Mướp đắng

Mướp đắng giúp quá trình chuyển hóa glucose, giới hạn năng lượng cung cấp cho tế bào ung thư tuyến tụy và tiêu diệt chúng nhưng không làm ảnh hưởng đến tế bào bình thường.

 4. Khoai lang

Khoai lang chứa một thành phần đặc biệt có tên DHEA và beta- carotene có thể phòng ngừa ung thư và chống lão hóa. Ngoài ra, hàm lượng chất xơ cao trong khoai lang hiệu quả trong việc chữa trị chứng táo bón và phòng ngừa ung thư đại trực tràng.

5. Bí đỏ

Bí đỏ chứa nhiều chất chống oxy hóa và giàu beta-carotene và alfa-carotene, 2 tiền tố của vitamin A nên có tác dụng bảo vệ da, chống tia nắng mặt trời và ngăn ngừa những bệnh ung thư và tiểu đường.

6. Hành

Giống như tỏi, hành là thành viên thuộc họ hành, bao gồm tỏi tây, hẹ tây và hành lá. Hành cũng là thực phẩm tuyệt vời giúp chiến đấu chống lại căn bệnh ung thư vì khả năng can thiệp vào sự tiến triển của khối u và mang lại hiệu quả tích cực chosức khỏe.

Theo đó, hành tây đã được chứng minh là giảm nguy cơ một số bệnh ung thư, như ung thư đại trực tràng, thanh quản và buồng trứng.

7. Nghệ

Hoạt chất chính chiết xuất từ củ nghệ vàng giúp ức chế sự phát triển một số loại tế bào ung thư như tế bào ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư máu, ung thư đại trực tràng, ung thư gan…

Nghệ có khả năng vô hiệu hóa các gốc tự do hình thành trong quá trình tự vệ của cơ thể, vừa phòng ngừa ung thư một cách tích cực ngay từ lúc mới hình thành tế bào ung thư. Đồng thời ngăn chặn không cho hình thành các tế bào ung thư mới.

8. Gừng

Các tế bào thông thường có vòng đời xác định và sẽ bị đào thải một cách tự nhiên. Tuy nhiên, tế bào ung thư thì không như vậy. Chúng liên tục gia tăng và gây ảnh hưởng xấu đến cơ thể.

Các nhà khoa học đã tìm ra một chất dinh dưỡng thực vật trong củ gừng là 6-gingerol. Chất này có tác dụng thúc đẩy kết thúc vòng đời của tế bào ung thư, do đó làm giảm khả năng sản sinh và phát triển của căn bệnh này.

9. Tỏi

Tỏi là một trong những thực phẩm đi đầu trong việc phòng chống các bệnh ung thư dạ dày và ung thư ruột kết. Chỉ cần sử dụng một lượng tỏi nhỏ trong bữa ăn hàng ngày cũng có tác dụng tốt đến hệ miễn dịch.

 Trong tỏi cớ chứa nhiều selen – một chất chống oxy hóa rất mạnh nên có thể giúp cơ thể chống lại ung thư. Các chất chống oxy hóa này có thể vô hiệu hóa các gốc tự do và tấn công khối u trước khi nó có thể nhen nhóm.

Đối với bệnh nhân đã mắc ung thư, tỏi sẽ có tác dụng ngăn không cho các tế bào ung thư phát triển, tiêu diệt sự phát triển của những mạch máu mới nuôi sống khối u.

10. Quả lựu

Lựu không chỉ là loại trái cây tươi ngon mà còn có hiệu quả rất ấn tượng trong việc phòng chống các bệnh ung thư.

Quả lựu chứa nhiều chất chống oxy hóa và chống viêm, giúp ngăn chặn và làm chậm quá trình phát triển của bệnh ung thư. Hoạt tính chống ôxy hóa trong loại quả này cũng mạnh hơn nhiều so với hợp chất ở rượu vang và chè xanh.

Ngoài ra, trong lựu có chứa hợp chất ellagitannins có vai trò tích cực trong ngăn chặn sự sản xuất các oestrogen – yếu tố nguy hiểm kích thích sự phát triển của các tế bào ung thư vú.

11. Kiwi

Kiwi giàu vitamin, đặc biệt là hàm lượng vitamin C cao gấp 4-12 lần cam quýt, gấp 30 lần táo và 60 lần với nho. Trong kiwi hàm chứa một loại chất hoạt tính ngăn chặn sự hình thành chất gây ung thư trong cơ thể.

12. Lúa mì

Lúa mì chứa rất nhiều vitamin và khoáng chất. Uống nước ép từ mầm lúa mì sẽ giúp một lượng lớn chất xơ dễ dàng đi vào cơ thể giúp giảm các bệnh như đau ruột kết, trực tràng ngoài ra còn có tác dụng phòng bệnh ung thư.

13. Các loi rau h ci

Những loại rau họ cải như súp lơ trắng, súp lơ xanh và bắp cải là những thực phẩm rất phổ biến trong cuộc sống thường ngày. Và chúng cũng chứa nhiều dưỡng chất như hoạt chất chống oxy hóa và ung thư  có sức mạnh đáng kinh ngạc.

 Hãy ăn càng nhiều cải búp, cải canh, cải xoong, củ cải, bắp cải,… càng tốt, để nạp đủ lượng dưỡng chất thực vật và các hợp chất chống ung thư cho cơ thể.

TĐMVSK sưu tầm 

Sự khác biệt giữa vi trùng (viruses) và vi khuẩn (bacteria)

Sự Khác Biệt Giữa Vi trùng (Viruses) Và Vi Khuẩn (Bacteria)

Sự Lây Lan Và Cách Phòng Ngừa ?

Virus và vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu.

Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa virus và vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây ra.

  1. Vi khuẩn là gì ?

Vi khuẩn thuộc loại đơn bào, có ở khắp mọi nơi, chỉ một giọt sữa chua là có thể chứa 100 triệu vi khuẩn. Hầu hết các vi khuẩn sinh sản bằng cách phân bào (một tế bào tách làm đôi).

Vi khuẩn giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa của người và vật, giúp hóa mùn cây cối và súc vật chết, giúp cho tiến trình lên men hiệu quả.

Vi khuẩn có vai trò quan trọng trong tái chế chất dinh dưỡng như cố định nitơ từ khí quyển và gây thối rữa sinh vật khác.

  1. Virus (Vi rút) là gì ?

Vi rút lớn lên và phát triển chỉ khi chúng sống trong tế bào sống. Sống ngoài tế bào sống, vi rút sẽ tự hủy diệt, không thể phát triển, trừ khi chúng sống trong tế bào động vật, thực vật hay vi khuẩn.

Vi rút gây bệnh cho người và vật, do thở hay nuốt vào, đột nhập vào lỗ hổng trên da.

Virus bao gồm vật liệu di truyền (DNA hoặc RNA) bao quanh bởi một lớp phủ bảo vệ của protein. Có khả năng bám vào các tế bào và nhận được bên trong chúng.

Virus có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật, từ động vật, thực vật cho tới vi khuẩn và vi khuẩn cổ.

  1. Sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus ?

(Chú thích: dấu + là Có, dấu – là Không)

* Vi khuẩn (Bacteria) – Gây viêm nhiễm nhưng diệt được

Vi khuẩn còn được gọi là vi trùng, chúng hiện diện khắp nơi trong đất, nước và ở dạng cộng sinh với các sinh vật khác. Một số là tác nhân gây bệnh và gây ra bệnh uốn ván, thương hàn, giang mai, tả, bệnh lây qua thực phẩm và lao.

Một số nhiễm khuẩn có thể lan rộng ra khắp cơ thể và trở thành bệnh toàn thân.

Bệnh do vi khuẩn lây nhiễm qua tiếp xúc, không khí, thực phẩm, nước và côn trùng.

Vi khuẩn gây viêm nhiễm nhưng diệt được mầm bệnh, bệnh do bị nhiễm khuẩn có thể trị bằng thuốc kháng sinh, được chia làm hai nhóm là diệt khuẩn (bacteriocide) và kìm khuẩn (bacteriostasis), với liều lượng mà khi phân tán vào dịch cơ thể có thể tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn.

* Virus – Thuốc kháng sinh vô tác dụng với virus

Vi rút chỉ có thể sống và phát triển được khi xâm nhập vào bên trong tế bào của sinh vật khác (người, động vật và cây cỏ) và khi ra khỏi ký chủ, vào môi trường ngoài (nước, không khí…) chúng sẽ không sống được lâu.

Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loài vi rút khác nhau, trong đó có khoảng 300 loài có khả năng gây bệnh cho người như AIDS, viêm gan B và C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa, cúm…

Khác với vi khuẩn, vi rút đánh vào hệ miễn dịch của cơ thể nên điều trị bằng kháng sinh không có tác dụng mà chỉ có thể chống lại bằng cách tiêm vaccin.

Riêng các loại vi rút gây cúm, vì chúng biến chủng rất nhanh nên vaccin chế từ virus năm này lại không hữu hiệu với cùng virus ấy cho năm tới. Vì thế các loại vaccin hiện có không ngừa được virus cúm A (H1N1).

Khi thời tiết chuyển mùa hay trở lạnh sẽ là điều kiện thuận lợi để vi rút gây bệnh.

  1. Tại sao thuốc kháng sinh (antibiotic) không điều trị được bệnh do virus gây ra ?

Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London), Alexander Plemming phát hiện ra chất kháng sinh (antibiotic) diệt khuẩn và đặt tên là penicillin.

Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin được Chính phủ Mỹ chấp nhận và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.

Từ penicillin, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau và đã xếp chúng thành nhiều nhóm dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với vi khuẩn.

Kháng sinh (Antibiotic) đối với virut thì như thế nào?

Do cấu tạo virut hoàn toàn khác biệt với tế bào vi khuẩn và nó không phải là một tế bào hoàn chỉnh bởi cấu tạo đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào vi khuẩn chỉ là bộ gen (hoặc DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”.

Do cấu tạo đặc biệt đó nên bắt buộc virut phải sống ký sinh bên trong tế bào túc chủ mà nó xâm nhiễm, bởi vì virut không có hệ thống enzym hoàn chỉnh nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình hoặc tự sinh sôi nảy nở được.

Do đó, để tồn tại và phát triển thì virut phải xâm nhập vào trong các tế bào khác (tế bào túc chủ) và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.

Khi vào cơ thể, áo protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết. Hơn nữa, kháng sinh diệt được vi khuẩn vì vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào nên kháng sinh có thể diệt nguyên vi khuẩn, còn virut nằm trong vật chất di truyền của tế bào túc chủ cho nên nếu kháng sinh diệt virut thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của túc chủ (người hoặc động vật).

Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công virut sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào túc chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn.

Hơn thế nữa, virut còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.

Để thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với virut, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt virut dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào túc chủ của virut.

Tuy vậy, virut luôn thay đổi hình dạng và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng.

  1. Virus và vi khuẩn lây lan như thế nào ?

 

– Một người bị lạnh có thể lây nhiễm vi khuẩn hoặc virus bằng cách ho hoặc hắt hơi.

– Vi khuẩn hoặc virus có thể được lây lan bằng cách chạm hoặc bắt tay với người khác.

– Chạm vào thức ăn với bàn tay bẩn cũng sẽ cho phép virus hoặc vi khuẩn từ ngoài lây lan tới ruột.

– Lây qua dịch cơ thể:  như máu, nước bọt và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật, ví dụ bằng cách tiêm hoặc quan hệ tình dục (đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do virus như viêm gan hoặc AIDS).–

Virus lây lan theo nhiều cách; virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng; trong khi virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ những côn trùng hút máu. Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những vector.

Virus cúm lan truyền thông qua ho và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn hay nước uống.

HIV là một trong vài loại virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh. Mỗi virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là “biên độ vật chủ” (host range); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau mà virus có khả năng lây nhiễm.

Sự xâm nhập của virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vaccin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một virus xâm nhiễm nhất định.

Tuy nhiên, một số virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa phần các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng virus được phát triển.

  1. Làm thế nào để tránh nhiễm trùng ?

–  Rửa tay thật kỹ (thường là một trong những cách tốt nhất để tránh bị cảm cúm).

– Bắt tay với người bị cảm lạnh là nguy hiểm, do đó, tránh dụi mắt hoặc mũi của bạn sau đó.

– Thức ăn phải được nấu chín hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.

– Rau và thịt phải được lưu giữ riêng và chuẩn bị trên thớt riêng biệt.

– Khi bị cảm cúm, hoặc hắt hơi, sổ mũi cần chuẩn bị khăn giấy, khăn cá nhân để ngăn chặn đưa virus, vi khuẩn ra ngoài môi trường. Cần luyện thói quen ho vào cánh tay áo (nếu không có khăn giấy) và khạc nhổ vào giấy vệ sinh rồi gói lại cho vào thùng rác.                      

– Một số sinh vật bị giết khi thức ăn được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại có thể gây ra tiêu chảy và nôn mửa. Hạn chế ăn các thức ăn để qua đêm, vì dù đun sôi, vi khuẩn có thể chết, nhưng độc tố gây bệnh do vi khuẩn tạo ra trong thực phẩm vẫn còn.

– Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan bệnh qua đường tình dục.

– Giữ phong cách sống và tinh thần tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh.

  1. Một số bệnh do vi rút gây ra và cách phòng bệnh

Tiêu chảy do vi rút: Bệnh tiêu chảy mùa đông do Rota vi rút gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 – 7 ngày. Khi bị bệnh thường có biểu hiện sốt nhẹ, hơi mệt, nôn, tiêu chảy, ở trẻ em có quấy khóc… Người bệnh đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải. Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu  chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời.

Sốt do vi rút: Các triệu chứng sốt vi rút điển hình là ban đầu sốt nhẹ khoảng 38 – 38,5 độ C, sau đó bùng lên sốt cao đến 39 độ C hoặc cao hơn. Nhiều người đau họng, ho hắng nhẹ, đau nhức mình mẩy, vã mồ hôi, mệt mỏi. Thường sau 5 – 6 ngày, bệnh sẽ tự khỏi.

Về điều trị, chỉ cần dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, hoặc dùng các loại thuốc cảm để chữa triệu chứng đau nhức, sổ mũi, ho… Ngoài ra nên súc miệng nước muối và nhỏ mũi thường xuyên. Không nên dùng kháng sinh.

Sốt vi rút là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và công sở, nơi dùng điều hòa không khí. Do đó, người bị sốt vi rút nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Nếu mệt nặng, nên nghỉ làm. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C và bảo vệ sức khỏe. Để cơ thể có sức đề kháng tốt cần ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu như cháo, súp… ngoài ra nên uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả…

  1. Cách phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn và virus gây ra

Bạn cần có một phong cách sống lành mạnh, tinh thần tích cực để giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh.

Vì khi hệ miễn dịch yếu thì vi khuẩn hoặc virus nào cũng có thể tấn công bạn.

Bạn cần thực hiện 8 điều tốt sau đây nhé:

– Ăn tốt: đủ dinh dưỡng, cân bằng, hợp lý, tươi, sạch, an toàn,

– Uống đủ nước và đúng cách.

– Ngủ tốt: ngủ đúng giờ, phòng thoáng khí, đông ấm, hè mát, ngủ sâu giấc.

– Tập tốt: Tập thể dục và vận động hàng ngày, để thúc đẩy quá trình trao đổi chất và đào thải độc tố.

– Nghĩ tốt: suy nghĩ tích cực, lạc quan, để có sức khỏe tinh thần tốt.

– Môi trường sống tốt: xanh, sạch, đẹp.

– Học tốt: học các kiến thức chăm sóc, bảo vệ và phòng bệnh mỗi ngày.

– Làm tốt: Làm tốt công việc của bạn để có tài chính tốt đảm bảo cho bản thân và gia đình.

TĐMVSK sưu tầm

Chỉ sống bằng dưỡng khí

Chỉ sống bằng dưỡng khí

 Suốt 9 năm chỉ sống bằng ‘hít khí giời’, cặp vợ chồng vẫn khỏe đẹp và có 2 con

 

Một đôi vợ chồng ở Mỹ đang sống theo phong cách “ăn không khí”. Trong tuần, họ chỉ ăn một chút rau và quả, nhưng không phải vì đói. Thậm chí người mẹ đã mang thai thành công 2 lần và có những đứa con khoẻ mạnh. Lý giải hiện tượng kỳ lạ này như thế nào?

Con người không thể nhịn thở nhưng có thể nhịn ăn vài ngày nếu bị rơi vào tình huống đặc biệt, hoặc ăn chay, chỉ ăn thức ăn nguồn gốc thực vật. Tuy nhiên có thể nhịn ăn trường kỳ mà vẫn sống khoẻ mạnh là điều vượt khỏi khả năng bình thường của con người. Trong y học, tình trạng không ăn chỉ xảy ra khi người đó rơi vào trạng thái thực vật, nằm bất động.

Dinh dưỡng như loài phong lan, ăn không khí – Cặp đôi vẫn có cuộc sống gia đình hạnh phúc

Cũng giống như loài cây phong lan chỉ sống dựa vào không khí và ánh sáng. Akahi Ricardo (36 tuổi) và vợ Camila Castello (34 tuổi) – cặp vợ chồng sống tại California, Mỹ và cả Ecuador – cho biết, họ đã quên mất cảm giác đói là như thế nào và tin rằng con người có thể sống nhờ “năng lượng tồn tại trong vũ trụ và trong chính họ”.

Bà mẹ 2 con vẫn trẻ đẹp khi thực hành phương pháp ăn không khí

Chị Camila – bà mẹ 2 con cho biết, suốt thai kỳ chị đã thực hành phương pháp ăn không khí (breatharianism), chỉ ăn 5 lần thức ăn trong suốt 9 tháng mang thai bé đầu tiên. “Con người có thể dễ dàng sống mà không cần thức ăn, miễn là chúng ta kết nối được với năng lượng tồn tại trong mọi thứ và hơi thở”, chị cho biết.

Gặp nhau vào năm 2005, Camila và Akahi đã kết hôn vào 3 năm sau đó. Trong khi du lịch vòng quanh Nam Mỹ vào năm 2008, họ biết đến breatharianism qua một người bạn. Cặp đôi đã ăn chay trong nhiều năm và chuyển sang chế độ ăn thực phẩm tươi sống, hạn chế nấu nướng ở mức tối thiểu và sau đó là chỉ ăn trái cây thôi. Tháng 3/2008, sau những bước chuẩn bị cần thiết, Akahi và Camila đã tiến hành quá trình “ăn không khí 21 ngày”.

Trong quá trình này, vào 7 ngày đầu tiên, cả hai không được ăn gì cả, ngoại trừ không khí. 7 ngày tiếp theo, được uống ít nước và nước trái cây pha loãng. 7 ngày cuối cùng sẽ là nước trái cây pha loãng và nước.

Từ đó 2 vợ chồng dần dần từ bỏ được việc lệ thuộc vào đồ ăn và trở thành những huấn luyện viên của thuyết breatharianism (ăn không khí).

“Đây sẽ là điều giúp bạn nhận ra tiềm năng vô hạn ẩn sâu trong mỗi người. Nó giúp chúng ta hiểu hơn về hơi thở và sự hiện diện của hơi thở trong cuộc sống của chúng ta, cho chúng ta thấy rằng có thể sống mà không cần thức ăn bởi đã có không khí. Tôi từng ăn rất nhiều nhưng giờ thì tôi chẳng còn cảm thấy đói bụng từ năm 2008”, anh Akiha cho biết.

Trong lần mang thai đầu tiên vào năm 2011, tuy có chút lo lắng về sức khoẻ đứa bé nhưng cặp đôi vẫn tin tưởng vào bản thân.

“Tôi không bao giờ cảm thấy hay có nhu cầu ăn thức ăn suốt 9 tháng mang thai. Vì vậy tôi chỉ ăn 5 lần, tất cả đều là do đi dự tiệc với người thân. Và tôi biết rằng con trai mình sẽ được nuôi dưỡng bởi tình yêu của tôi và điều này sẽ giúp con phát triển khỏe mạnh trong cơ thể tôi. Tôi thường xuyên khám thai và bác sĩ khẳng định chỉ số tăng trưởng cho thấy con tôi là một bé trai khỏe mạnh”, chị tự hào chia sẻ.

Sau khi sinh con đầu lòng, cặp đôi cho phép bản thân thư giãn đôi chút bằng cách nạp ít thức ăn vào cơ thể trong những bữa cơm gia đình, nhưng chỉ là lượng rất ít.

Trong suốt thai kỳ thứ hai, chị chỉ ăn trái cây và rau củ nhưng theo chị, nó vẫn rất ít so với khuyến cáo cho mẹ bầu. Giờ đây, vợ chồng chị ăn nhiều nhất là từ 3 đến 4 lần một tuần và khẳng định, cả hai không ép buộc con mình phải theo breatharianism.

Akahi cho biết: “Chúng tôi không bao giờ thay đổi chúng, để chúng ăn bất kì thứ gì chúng muốn, từ rau củ, pizza, kem hay nước hoa quả. Chúng tôi muốn con được khám phá những hương vị khác nhau và tương thích với các món ăn khi chúng lớn lên”.

“Tôi ăn không phải vì tôi đói. Tôi không nhớ cảm giác đó thế nào đâu”, chị Camila thêm vào.

Chị Camila bảo rằng, chị cảm thấy khỏe hơn và hạnh phúc hơn khi là một người “ăn không khí”, nó giúp chị điều chỉnh cân nặng và loại bỏ bất kì triệu chứng nào của hội chứng tiền kinh nguyệt.

Akahi chia sẻ: “Rõ ràng, sinh hoạt phí của chúng tôi thấp hơn nhiều so với các gia đình khác. Điều này cho phép chúng tôi sử dụng tiền vào những việc thực sự quan trọng như du lịch và khám phá cùng nhau. Bất kì ai chọn breatharianism đều cảm nhận được lợi ích. Không chỉ bởi vì không cần phải ăn thức ăn nữa mà con là hiểu về sự nuôi dưỡng vũ trụ, chứ không phải chỉ nuôi dưỡng thể chất, cũng như sống không có giới hạn”.

Lý giải: Khả năng nhịn ăn trường kỳ vẫn sống tốt

Đây đó trên thế giới, người ta vẫn ghi nhận các trường hợp không ăn không uống trong nhiều năm trời, có trường hợp nhịn ăn đến 70 năm nhưng vẫn sống khỏe, như cụ ông Prahlad Jani, một hành giả Yoga ở Ấn Độ. Một số trường hợp này thuộc diện người tập luyện yoga, thiền định Phật giáo… nhưng cũng có trường hợp vẫn sinh hoạt trong xã hội bình thường.

Đây là điều khoa học chưa có cách lý giải rõ ràng. Tuy nhiên trong giới tu luyện khí công, hoặc ngay trong những người thực hành thiền định, yoga cổ xưa… thì điều này có vẻ hết sức bình thường. Đó có thể là bắt nguồn từ những phương pháp tu luyện cổ xưa, nhiều người vào núi sâu rừng thẳm tách biệt với nơi con người sinh sống để tu luyện.

Có người vẫn đang tu luyện trong núi sâu? (Ảnh minh hoạ: Internet)

Tại đó không có khả năng cung cấp thực phẩm đều đặn nên đã buộc phải có những phương pháp tu luyện như thế. Tuy nhiên các phương thức này thường chỉ là mật truyền giữa sư phụ và đệ tử trong những tình huống đặc thù, và không được phép phổ biến ra xã hội bên ngoài… Cơ thể người tu luyện có thể sản sinh ra năng lượng mà ngày nay dựa vào những máy đo các hạt vi mô đang có người ta có thể kiểm chứng được, nên họ có thể dùng nó để duy trì sự sống.

Hiện tượng nhịn ăn (tịch cốc) này cũng được đề cập đến trong cuốn “Chuyển Pháp Luân”, cuốn sách hướng dẫn tu luyện khí công Phật gia đã được dịch ra tiếng Việt và hàng chục ngôn ngữ khác, bạn có thể tham khảo. Trong đó, tác giả có giải thích chi tiết hiện tượng này và nhiều bí ẩn khác về cơ thể người. Xem tại trang www.phapluan.org

Theo thesun.co.uk Hoàng Kỳ

Uống nước chanh tốt cho sức khoẻ

Điều kỳ lạ gì sẽ xảy ra với cơ thể khi uống nước chanh mỗi ngày?

Muốn da đẹp, hãy uống nước chanh. Một cốc nước chanh ấm mỗi sáng không chỉ tốt cho hệ tiêu hóa mà còn thúc đẩy sự trao đổi chất trong cơ thể. Ngoài ra, nước chanh cũng rất tốt cho đôi mắt của bạn.

  1. Nước chanh tốt cho hệ tiêu hóa

Một cốc nước chanh ấm mỗi sáng sẽ kích hoạt hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn, đồng thời hỗ trợ bài tiết những tích tụ trong ruột từ ngày hôm trước.

  1. Nước chanh giúp bù nước

Khi chúng ta làm việc và hoạt động mệt mỏi, cơ thể tiết ra nhiều mồ hôi và mất đi các chất điện giải (các khoáng chất bao gồm natri, kali và clorua), cho thêm vào cốc nước vài lát chanh sẽ giúp làm tăng quá trình cân bằng điện giải trong cơ thể.

  1. Tốt cho mắt

Không chỉ cà rốt, chanh cũng tốt cho mắt. Thuộc họ cam, quýt, chanh chứa nhiều vitamin C và các chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa hiệu quả các bệnh về mắt như: đục thủy tinh thể và thoái hóa điểm vàng.

  1. Muốn da đẹp, hãy uống nước chanh

Uống nhiều nước là cách giúp làn da của bạn luôn tràn đầy sức sống. Tuy nhiên, hãy thử uống nước chanh mỗi ngày, bạn sẽ thấy hiệu quả rõ ràng. Chanh có chứa các chất chống oxy hóa mạnh, làm giảm các vết nhăn, đồng thời giúp da trông tươi trẻ, khỏe mạnh.

  1. Chanh là “người bạn tốt” của lá gan

Uống nước chanh giúp chức năng gan của bạn luôn ở mức tốt nhất. Giúp gan xả các chất độc bằng cách tăng cường chức năng của enzyme, axit được tìm thấy trong loại quả này còn giúp loại bỏ các vi khuẩn có hại.

  1. Chanh chứa hàm lượng kali cao

Bạn có biết ngoài chuối ra thì chanh cũng chứa hàm lượng kali cao không? Tầm quan trọng của khoáng chất này đôi khi bị xem nhẹ. Uống nước chanh sẽ giúp đảm bảo tốt cho chức năng của tim, bộ não, thận và cơ bắp.

  1. Uống nước chanh mỗi ngày giúp bạn không cần phải tới bác sĩ

Điều này nghe có vẻ cường điệu nhưng thực tế những người uống nước chanh mỗi ngày thường ít bị cảm cúm hơn hoặc nếu mắc phải cũng sẽ nhanh khỏi hơn những người chưa nhận ra lợi ích của loại nước uống quen thuộc này. Bởi vì nước chanh có nồng độ vitamin C cao, chất chống lại pathogen và các yếu kém về hệ miễn dịch.

  1. Giảm viêm

Triệu chứng viêm rất khó nhận ra, “viêm” tạm thời – là một phản ứng tự nhiên của cơ thể. Viêm mãn tính có thể là lý do chính gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng và có liên quan đến tình trạng thừa axit trong cơ thể. Uống nước chanh mỗi ngày làm giảm lượng axit có trong cơ thể và giúp cơ thể loại bỏ axit uric có hại có thể gây viêm.

  1. Duy trì độ pH hoàn hảo

pH của cơ thể tốt nhất nên ở mức hơi kiềm (7.3-7.4). Chanh tuy có vị chua nhưng nó lại giúp kiềm hóa máu, phòng chống lại bệnh tât.

  1. Thúc đẩy sự trao đổi chất

Nếu muốn giảm cân bằng cách thay đổi chế độ ăn và lối sống lành mạnh thì nước chanh chính là một giải pháp hoàn hảo. Nước chanh giúp tăng cường sự trao đổi chất và giảm cơn thèm ăn.

  1. Tạm biệt cà phê một cách dễ dàng

Nhiều người thường phải uống cà phê mỗi sáng để có thêm năng lượng cho một ngày làm việc dài. Tuy nhiên, nếu thay cà phê bằng một cốc nước chanh ấm mỗi sáng trong vòng hai tuần, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy tỉnh táo, đầy sức sống và khỏe khoắn hơn rất nhiều.

TĐMVSK sưu tầm

Sóng điện thoại di động gây ung thư, rối loạn tâm trí và vô sinh

Sóng điện thoại di động gây ung thư, rối loạn tâm trí và vô sinh

Đây là kết luận được đưa ra trong bản hướng dẫn của Bộ Y Tế California, Hoa Kỳ.

Sóng điện thoại và ung thư có mối liên hệ gì không – đây là chủ đề đã được lôi ra tranh cãi trong suốt nhiều thập kỷ.

Vào tháng 5/2016, một nghiên cứu trên 30 năm tại Úc đã chính thức đưa ra kết luận rằng sóng điện thoại không thể gây ung thư não, nhưng chừng đó là chưa đủ để thuyết phục tất cả tin vào sự vô hại của điện thoại di động.

Và mới đây, Bộ Y tế California (Hoa Kỳ) đã công bố một bản hướng dẫn. Trong đó đưa ra lời khuyên mọi người cần phải để điện thoại tránh xa trong lúc ngủ, nhằm giảm thiểu sự tiếp xúc với bức xạ có hại cho sức khỏe. Ngoài ra, văn bản còn nhấn mạnh rằng sóng điện thoại có thể gây ra ung thư, rối loạn tâm lý, và gây vô sinh.

Được biết, điện thoại sử dụng sóng radio – loại sóng có bước sóng rất dài trong phổ bức xạ. Tuy nhiên, trong văn bản được công bố thì việc tiếp xúc quá gần với nguồn phát sóng có thể gây nguy hiểm.

“Để điện thoại di động ở quá gần cơ thể chưa bao giờ là an toàn,” – trích lời tiến sĩ Devra Davis từ Bộ sức khỏe môi trường.

Trên thực tế, các hãng sản xuất điện thoại di động cũng không phủ nhận điều này. Như Apple, trên bản hướng dẫn sử dụng có dòng chữ “RF exposure” (nghĩa là dùng điện thoại sẽ phải tiếp xúc với sóng radio).

“Nhiều người chẳng để ý rằng lời cảnh báo tránh xa điện thoại cũng được in ngay trên điện thoại của mình.” – tiến sĩ Davis cho biết.

Những tác hại của sóng radio theo văn bản hướng dẫn của bang California

Trong văn bản, sóng radio có thể dễ dàng xâm nhập vào não bộ của trẻ em, gây ra nhiều tổn thương và ảnh hưởng vĩnh viễn đến sự phát triển của não bộ trẻ.

Dù các nghiên cứu về ảnh hưởng của sóng điện thoại đến trẻ em vẫn ở quy mô khá nhỏ, nhưng cũng đủ để khiến con người cần phải cẩn trọng hơn. Đấy là chưa tính đến các nghiên cứu cho thấy điện thoại khiến trẻ em khó tập trung, gây mất ngủ, thậm chí tạo ra một số chứng bệnh về tâm lý.

Vào đầu tháng 12, chính phủ Pháp đã chính thức cấm điện thoại di động trong trường tiểu học và trung học. Dù mục đích của lệnh cấm là để học sinh tập trung hơn nhưng nó cũng được nhóm chuyên gia về bức xạ điện thoại ủng hộ nhiệt liệt.

“Chúng tôi đã thử nghiệm cách sử dụng điện thoại của học sinh. Kết quả cho thấy lượng sóng radio được tiếp xúc vượt qua tiêu chuẩn an toàn của Pháp tới 4 lần. Và nếu áp dụng trên tiêu chuẩn của Mỹ, sự chênh lệch còn lên tới 7 lần” – tiến sĩ Davis cho biết.

Bên cạnh đó, Davis cho biết đã từng có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sóng radio khiến cho tinh trùng nam giới giảm chất lượng. “Các nghiên cứu cho thấy nam giới cất điện thoại trong túi quần càng lâu, số lượng tinh trùng trong tinh dịch càng thấp, và hầu hết đều đã bị tổn thương.”

Theo Davis, lời khuyên được đưa ra cho mọi người là khi ngủ cần tránh xa điện thoại. Không được để nó dưới gối, mà cách xa vài mét. Còn khi ra đường, hãy cất điện thoại trong túi xách, thay vì trong túi quần như trước.

Nhìn chung, các tác hại của sóng điện thoại di động vẫn sẽ còn gây tranh cãi rất nhiều nữa trong tương lai. Có điều vào lúc này, chúng ta nên cẩn thận thì hơn, đúng không?

TĐMVSK sưu tầm 

10 cách dưỡng thận hằng ngày ai cũng làm được

10 cách thức dưỡng thận để sống thọ và khoẻ mạnh hàng ngày ai cũng làm được

 Các bác sỹ y học cổ truyền Trung Quốc đã đúc kết và chia sẻ 9 bí quyết dưỡng thận để sống thọ.

Theo quan niệm của Trung y, thận được coi là “gốc rễ Tiên thiên” (nguyên khí) của con người.

Căn cứ vào nguồn gốc, khí hít thở vào phổi và khí hóa sinh khi ăn uống sẽ được gọi là “hậu thiên”. “Tiên thiên” là cách gọi dành cho loại khí chứa ở thận, bao gồm khí nguyên âm (thận âm) và khí nguyên dương (thận dương).

Thận được xem là khởi nguồn của nguyên khí và có vai trò vô cùng quan trọng với cơ thể con người

Vì vậy, nếu muốn trường thọ, chúng ta phải coi việc dưỡng thận là ưu tiên hàng đầu.

Trên thực tế, thận cũng có những thay đổi theo tuổi, đặc biệt là từ độ tuổi 40. Do đó, bắt đầu bước qua tuổi tứ tuần, chúng ta phải chăm sóc cơ quan này một cách đặc biệt.

Dưới đây là những bí quyết dưỡng thận đã được các bác sĩ y học cổ truyền đúc kết và chia sẻ.

  1. Bảo vệ tốt đôi chân

Kinh mạch của thận xuất phát từ bàn chân, nên sức khỏe của hai bộ phận này có liên quan trực tiếp với nhau. Trong khi đó, đôi chân lại rất dễ bị nhiễm lạnh.

Để giữ ấm cho chân, các bác sĩ khuyến khích mọi người đi tất, tránh đi chân trần ở những nơi ẩm ướt, khi ngủ cần giữ thói quen đắp kín chăn từ chân đế hết vai, càng không nên để hai chân đối diện với điều hòa hay quạt.

Bên cạnh đó, chân là nơi tập trung nhiều huyết vị, trong đó có huyệt Dũng Tuyền. Thói quen xoa bóp gan bàn chân trước khi đi ngủ được xem là một phương pháp dưỡng thận đơn giản mà công hiệu.

  1. Đại tiện thông suốt

Nếu đại tiện gặp khó khăn, các chất cặn bã sẽ tích tụ trong cơ thể gây ra táo bón, mệt mỏi, đau thắt lưng, cột sống, nôn mửa và đặc biệt là làm tổn thương thận.

Chính vì vậy, đại tiện thông suốt cũng được xem là một cách chăm sóc thận. Để quá trình bài tiết diễn ra dễ dàng, chúng ta nên chú ý điều chỉnh chế độ ăn uống hợp lý và tăng cường vận động.

Trong trường hợp đại tiện gặp khó khăn, có thể dùng 2 tay áp lên vùng thận và ấn nhẹ nhàng để kích phát cho thận sinh khí và gia tăng tốc độ đào thải.

  1. Uống đủ nước

Nước được xem là khởi nguồn của sự sống. Trên thực tế, uống nước đều đặn cũng là một phương pháp dưỡng thận hiệu quả.

Uống đủ nước cũng là một phương pháp dưỡng thận

Nếu cơ thể thiếu nước, các chất độc sẽ ngưng tụ, làm gia tăng áp lực cho thận. Ngược lại, lượng nước được cung cấp đầy đủ sẽ giúp hòa tan nước tiểu, ngăn ngừa sỏi thận và các bệnh lý khác.

Vì vậy, chúng ta nên hình thành thói quen uống ít nhất 8 cốc nước lọc (không dùng các đồ uống khác thay thế) mỗi ngày để bảo vệ thận.

  1. Duy trì giấc ngủ chất lượng

Một giấc ngủ chất lượng sẽ giúp khí huyết chuyển hóa thuận lợi. Đây là yếu tố quan trọng đối với việc dưỡng thận.

Bên cạnh đó, giấc ngủ có tác dụng hồi phục tinh lực, dưỡng khí, kiện tỳ, ích vị, kiện cốt, cường gân. Những nghiên cứu lâm sàng cũng chỉ ra nhiều người suy kiệt công năng thận là do thức đêm triền miền, mệt mỏi hoặc ngủ không sâu giấc.

Do đó, chúng ta nên nuôi dưỡng thói quen nghỉ ngơi và làm việc điều độ, ngủ sớm dậy sớm, tránh tình trạng lao lực quá sức.

  1. Không nên nhịn tiểu

Khi tích trữ nước tiểu đến một số lượng nhất định, bàng quang sẽ kích thích phản xạ thần kinh để bài tiết, sinh ra cảm giác buồn tiểu. Đi vệ sinh đúng thời điểm này là một trong những yếu tố góp phần bảo vệ thận.

Nếu bị kìm hãm quá lâu, nước tiểu sẽ gia tăng áp lực cho bàng quang, khiến phản xạ của cơ quan này trở nên hỗn loạn, làm cho nước tiểu “phản lưu” (chảy ngược).

Hiện tượng này có thể dẫn đến vỡ thận, viêm thận, thậm chí gây tổn hại nghiêm trọng tới chức năng của cơ quan này.

  1. Nuốt nước bọt

Những lý thuyết dưỡng sinh của Trung Quốc từ xa xưa đều coi đánh giá cao công dụng của nước bọt. Cổ nhân cho rằng, nước bọt có tác dụng “nhuận ngũ quan, đẹp da thịt, chắc răng, cường gân cốt, lưu thông máu, tăng tuổi thọ”.

Nước bọt có rất nhiều tác dụng, trong đó có dưỡng thận

Trên thực tế, nước bọt trong miệng chia làm hai phần gồm nước miếng trong, loãng có liên quang đến tiêu hóa do tạng tỳ tiết xuất và nước miếng đục, đặc có liên quan đến thận.

Nước bọt của người còn chứa nhiều chất có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, trung hòa axit dạ dày và tăng cường hệ miễn dịch.

  1. Xoa bóp thắt lưng

Vòng eo là nơi tập trung nhiều huyệt vị như huyệt Mệnh Môn, huyệt Thận Du, huyệt Yêu Dương Quan, huyệt Yêu Nhãn,…Do đó, thói quen xoa bóp, đấm lưng, hay vận động hông và thắt lưng mỗi ngày sẽ giúp làm ấm thận dương, có lợi cho cột sống, thông kinh lạc.

Trong khi đi bộ, chúng ta cũng có thể dùng hai tay ấn nhẹ vào vùng thận và lưng sẽ làm thuyên giảm và phòng tránh các bệnh trạng về xương sống, thắt lưng.

  1. Cẩn trọng khi dùng thuốc

Các loại thuốc chứa thành phần aminoglycosides, vancomycin, các kim loại nặng, cisplatin, thuốc chống viêm không steroid, cephalosporin,…hay các loại thảo mộc như mộc thông, nam mộc hương,…đều không có lợi đối với thận.

Do đó, khi dùng thuốc cần đặc biệt lưu ý, tránh việc lạm dụng hay dùng liều. Đối với những loại thuốc có chứa các thành phần trên, chúng ta cần nắm rõ liều lượng, tác dụng và dùng theo đúng chỉ định của bác sĩ.

  1. Tăng cường ăn các thực phẩm có màu đen

Theo quan điểm của Trung Y, những đồ ăn màu đen đều có tác dụng bổ thận, nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và làm chậm quá trình lão hóa.

Các nghiên cứu của y học hiện đại cũng chỉ ra rằng thực phẩm màu đen thường có chứa anthocyanins, sắc tố làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, bệnh tim và ung thư.

Các thực phẩm màu đen được chứng minh là có tác dụng bổ thận

Bên cạnh đó, những thực phẩm màu đen có hàm lượng các chất chống oxy hóa cao hơn nhiều so với các loại thức ăn khác.

Vì vậy, việc tăng cường sử dụng những thực phẩm có màu đen như mộc nhĩ, gạo lứt, đậu đen hay uống các loại nước như hồng trà sẽ bổ khí thận, chậm lão hóa.

Khi sử dụng cũng cần lưu ý chỉ ăn vừa đủ, tránh ăn quá nhiều khiến dạ dày bị áp lực, dẫn đến phản tác dụng.

10. Bấm, ấn và tác động trên các huyệt của thận kinh và huyệt Dũng tuyền, cũng như giữa lòng hai bàn tay và lòng hai bàn chân, tương đương với thận theo phương pháp phản xa học.

 

TĐMVSK sưu tầm  và bổ túc

by Tháng Mười Hai 16, 2017 Comments are Disabled Bấm huyệt, Bí quyết sống khoẻ mạnh, Chia sẻ kinh nghiệm

8 loại trái cây tốt cho sức khỏe của phụ nữ và thai nhi

8 loại trái cây thơm ngon  tốt cho sức khỏe của phụ nữ và thai nhi 3 tháng cuối, các bố nhớ mua về cho hai mẹ con

Các bác sĩ cho biết thai phụ ăn trái cây rất tốt để cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất cho cả mẹ và bào thai. Tuy nhiên theo từng giai đoạn mang thai mà có loại trái cây nên ăn và không nên ăn.

Dưới đây là các loại trái cây mà các mẹ bầu nên ăn để con sinh ra vẫn nặng đủ chuẩn, trắng nõn, bụ bẫm, lanh lợi:

1/ Dâu: Trong tam cá nguyệt cuối, bộ não thai nhi phát triển rất nhanh nên lúc này con cần nhiều omega-3 và nhiều axít béo có lợi khác. Trái dâu chua chua, thơm ngọt mẹ hay ăn chứa rất nhiều omega-3 và omega-6. Đặc biệt, trong 3 tháng cuối này, thai nhi sẽ tăng cân nhanh chóng, tích mỡ dự trữ dưới da để giúp bé khỏe mạnh khi ra khỏi bụng mẹ và làm quen với môi trường bên ngoài nên mẹ nên ăn nhiều quả dâu. Các mẹ nên chọn mua loại nào còn tươi, ít dập nát để đảm bảo an toàn.

2/ Bưởi, cam sành: Với hàm lượng vitamin C dồi dào, các loại quả thuộc họ hàng nhà cam như bưởi, cam sành, quýt, chanh…là lựa chọn lý tưởng cho mẹ bầu trong 3 tháng cuối thai kỳ. Vitamin C này tăng cường sức đề khánh, chống lại bệnh tật, phòng ngừa tình trạng vỡ ối sớm, sinh non; giúp mẹ hấp thu sắt và canxi tốt hơn, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của bé. Vị chua của bưởi, cam cũng giúp mẹ đỡ cảm thấy mệt mỏi, xót ruột, nhạt miệng, đắng miệng. Chú ý là các mẹ bầu không nên uống lạnh, đặc biệt là vào mùa đông.

3/ Đu đủ: Quả đu đủ chín chứa nhiều vitamin A, C, canxi, sắt… nhưng lại không chứa nhiều tinh bột, giúp cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho thai nhi nhưng lại không làm mẹ tăng cân nhanh. Ở Việt Nam, đủ đủ có rất nhiều, chỉ cần ra chợ là bạn sẽ mua được ngay.

4/ Chuối:  Chuối không chỉ giàu chất xơ ngừa táo bón mà còn chứa nhiều kali, dưỡng chất duy trì huyết áp ổn định, thai nhi nhận đủ dinh dưỡng và oxi từ mẹ trong 3 tháng cuối. Ăn chuối khi mang thai còn bồi bổ cơ thể, hạn chế tình trạng phù nề, chuột rút khi mang thai. Chú ý không nên ăn chuối khi đói vì làm rối loạn cân bằng magie và canxi trong máu.

5/ Bơ: Bơ vừa ngon vừa bổ, nếu mẹ mang thai trúng mùa bơ chín thì nên ăn nhiều bơ. Loại quả này chứa nhiều omega-3, giúp thai nhi thông minh vượt bậc. Các a-xít béo không no dồi dào giúp hấp thụ dinh dưỡng tốt, cung cấp năng lượng cho sự phát triển của thai nhi trong những tháng cuối thai kỳ. Ăn bơ không sợ bị táo bón và béo phì, tiểu đường, mỡ máu.

6/ Dừa:  Nước dừa giàu khoáng chất cho thai nhi phát triển, tăng sức đề kháng khỏi cảm bệnh, tăng ối và lọc sạch ối. Những bà mẹ mà 3 tháng cuối thai nhi lớn bị cạn ối, uống nước dừa sẽ giúp cải thiện tình hình.

7/ Thanh long: Quả thanh long nhiều nước, vừa ngon vừa mát, bán đầy chợ, nước ta trồng thanh long nên giá cả phải chăng. Đặc biệt, 3 tháng cuối mẹ bầu ăn nhiều thanh long rất tốt cho bé, ngoài ra nó còn giúp tăng ối, thanh nhiệt cơ thể, góp phần phòng và chữa bệnh sốt xuất huyết nữa.

8/ Kiwi: Kiwi cũng là một trong những loại trái cây tốt nhất cho bà bầu 3 tháng cuối. Kiwi chứa nhiều vitamin C có tác dụng chống lão hóa và tăng cường miễn dịch, giảm nguy cơ hen suyễn và bệnh eczema sau khi sinh. Điều này rất cần thiết cho mẹ trong giai đoạn sắp lâm bồn vì khi mẹ khỏe sẽ sinh thường dễ và ít xảy ra biến chứng hơn.

Dưới đây là một số lưu ý có các mẹ bâu khi ăn trái cây:

– Không ăn trái cây thay bữa chính

– Không ăn khi quá đói hoặc quá no. Tốt nhất là ăn giữa buổi hoặc ăn trước và sau bữa cơm chính khoảng 1-2 tiếng đồng hồ.

– Súc miệng sau khi ăn trái cây để tránh bị sâu răng, chua miệng.

– Nên lựa ăn trái cây chín kỹ, không ăn trái cây sống có nhựa (mủ).

Theo Webtretho

TĐMVSK sưu tầm

10 thức ăn nuôi các tế bào ung thư lớn mạnh

10 món ăn khoái khẩu của tế bào ung thư, bạn đang nuôi dưỡng chúng hàng ngày mà không hay, thật nguy hiểm!

 

Nguyên nhân dẫn tới ung thư đa phần là do ăn uống, đồ ăn bạn yêu thích nhất cũng có thể là thứ mà tế bào ung thư “ưa thích nhất”!

Theo một kết quả nghiên cứu trên 135.000 người của bệnh viện đa khoa Massachusetts Hoa Kỳ và Đại học Harvard cho thấy, trong các nhân tố dẫn tới ung thư, tỷ lệ các nhân tố về cách sống như ăn uống, hút thuốc, vận động chiếm tới 20 % – 40%.

Chúng tôi đã làm một bảng tóm tắt, về sự liên quan giữa tỷ lệ mắc bệnh và điều trị khỏi của ung thư với 10 thứ dưới đây, bạn nhất định cần chú ý:

  1. Đường

Vượt quá 25gram là rất nguy hiểm

Một số người nói rằng, đường sẽ “nuôi dưỡng” tế bào ung thư, mặc dù điều này không hoàn toàn chính xác, nhưng chế độ ăn uống nhiều đường thực sự có liên quan tới bệnh ung thư. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng đường làm tăng nguy cơ ung thư cũng như tắc mức độ di căn của ung thư.

Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo: Nên khống chế lượng đường hấp thu hằng ngày vào cơ thể trong khoảng 50 gram, tốt nhất không nên vượt quá 25 gram.

  1. Đồ nóng

65oC là nhiệt độ của ung thư (ung thư thực quản, ung thư hậu môn trực tràng)

Người châu Á rất coi trọng việc “ ăn nóng” trong ăn uống, nhưng theo một nghiên cứu mới được công bố của tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế, ăn những thức ăn với nhiệt độ 65 độ trở lên ( như uống café, chè…) có thể dẫn tới ung thư thực quản.

Theo kết quả các nghiên cứu về bệnh học, những người Triều Châu (Trung Quốc) thích uống các loại trà đạo, cháo nóng, đều là nhóm người có nguy cơ mắc bệnh ung thư thực quản, ung thư hậu môn trực tràng.

Nguyên nhân là bởi vì, những loại thực phẩm quá nóng này sẽ làm tổn thương niêm mạc thực quản, ăn các thực phẩm có độ nóng cao trong thời gian dài, niêm mạc sẽ bị tổn thương mãn tính, dẫn tới viêm nhiễm mãn tính, từ đó tăng cường khả năng gây ung thư.

  1. Bệnh lười

Có rất nhiều người lười nấu cơm, thích ăn các loại thực phẩm đã được chế biến sẵn như giăm bông, xúc xích, còn có người có thói quen ăn ở ngoài, như vậy sẽ dễ dẫn tới hấp thu quá nhiều lượng dầu mỡ và muối cho phép theo tiêu chuẩn, dẫn tới nguy cơ mắc bệnh ung thư. Làm nóng lại cơm và thức ăn thừa của bữa trước lại để ăn là thói quen của rất nhiều người, nhưng trong thức ăn thừa thường có chứa chất nitrit có nguy cơ dẫn tới ung thư cao.

Ăn cơm nên ăn đúng giờ, đúng lượng, ăn các loại thực phẩm tươi sống, cố gắng đừng nên ăn các loại cơm và thức ăn còn thừa từ bữa trước. Ngoài ra, lười vận động cũng tăng thêm nguy cơ mắc bệnh ung thư.

  1. Thịt chế biến

Những thực phẩm như cá khô, nước mắm, thịt xông khói, xúc xích có hương vị rất đặc biệt, nhưng những thực phẩm này thường chứa rất nhiều nitrat, có thể được chuyển đổi thành nitrit trong dạ dày, sau đó kết hợp với thức ăn thành amino nitrit, là chất có thể dẫn tới ung thư đường tiêu hóa như ung thư dạ dày, đại tràng, tuyến tụy…tăng cao.

Mỗi ngày hấp thụ 50 gram các loại thịt đã qua chế biến, sẽ tăng thêm 18% nguy cơ mắc bệnh ung thư vùng bụng. Những loại thịt này đều sử dụng phương pháp ngâm tẩm ướp. Vì vậy chúng tôi khuyên bạn nên cố gắng ăn các loại thức ăn, thực phẩm hoa quả tươi, giảm ăn các loại thực phẩm gia công chế biến tẩm ướp.

  1. Mặn

Muối là một loại gia vị “ nguy hiểm” nhất, ăn mặn quá sẽ dẫn tới tổn thương mãn tính tới phần bảo vệ của niêm mạc dạ dày, lâu dần sẽ làm tăng tính nhạy cảm với chất gây ung thư, dẫn đến ung thư dạ dày.

Số bệnh nhân tử vong vì ung thư ở Mỹ một năm là 575.000 người, ở Nhật khoảng 365.000 người. Nếu tính trên tỉ lệ số người tử vong do ung thư là 100.000 người, thì Nhật cao gấp 1.6 lần so với Mỹ, điều này có liên quan tới thói quen ăn mặn của người Nhật.

Những người ăn mặn, có thể ăn nhiều các loại hoa quả có chứa vitamin C, vitamin C có thể giúp ngăn chặn sự tổng hợp của các hợp chất gây ung thư từ muối.

  1. Đồ nướng

Mùa hè mọi người thường thích ăn đồ nướng, theo kết quả của một nghiên cứu đã phát hiện thường xuyên ăn các loại đồ nướng như thịt bò, vịt nướng, thịt cừu nướng và các loại thịt xông khói, dễ dẫn tới bị ung thư thực quản và ung thư dạ dày.

Trong quá trình chế biến các loại thịt xông khói sẽ sản sinh ra một lượng rất lớn các aren, benzopyrene là một trong các aren gây ung thư mạnh mẽ trong số đó, nó sẽ dẫn tới đột biến tế bào, gây ung thư, vì vậy bạn nên hạn chế ăn các loại thực phẩm xông khói.

  1. Dầu

Theo các nghiên cứu gần đây, ăn các loại thực phẩm mỡ, nhiều chất béo, và các loại thực phẩm chứa hàm lượng calo cao đều là nhân tố nguy hại dẫn tới các loại ung thư đặc biệt là ung thư đại tràng.

Ngoài ra, các loại thực phẩm chiên chứa nhiều dầu mỡ, ví dụ như quẩy, bánh rán, đậu phụ chiên, trong quá trình chế biến sẽ sản sinh ra rất nhiều aren, đặc biệt là sử dụng các loại dầu mỡ tái đi tái lại nhiều lần, chất gây ung thư cũng càng nhiều.

Nên hạn chế ăn đồ ăn chiên xào, thường xuyên bổ sung đầy đủ các loại thực phẩm với tỉ lệ chất béo cần thiết để cân bằng, dùng các chất béo có lợi để chuyển hóa những axit béo và các chất dầu mỡ !

  1. Rượu

Dù chỉ một ly rượu vang mỗi ngày cũng có thể tăng nguy cơ ung thư.

Uống nhiều rượu có liên quan mật thiết tới bệnh ung thư gan, những người thường xuyên uống bia rượu và các loại đồ uống có chứa cồn, tỉ lệ mắc bệnh ung thư đại trực tràng cao. Các tổ chức y tế khuyến cáo

  1. Nấm mốc

Mọi người đều không cố ý ăn các loại thực phẩm đã bị mốc. Nhưng các loại ngũ cốc như lạc, ngô, gạo, thóc đều dễ bị ẩm dẫn tới nấm mốc, có khi không dễ phát hiện ra, đặc biệt là các món ăn nguội vào mùa hè, có những lúc bị mốc mà mắt thường không nhận ra được.

Các loại thực phẩm dễ bị ẩm như lạc, ngô, gạo, lúa dễ bị mốc

Những loại thực phẩm như thế này, rất có thể chứa các độc tố gây ung thư, đây là một trọng những độc tố có nguy cơ gây ung thư cao nhất, có liên quan cực kỳ mật thiết tới bệnh ung thư gan.

  1. Khói thuốc lá

Hút thuốc gây ung thư là điều đã được thế giới công nhận, ngoài ra, khói nấu đồ ăn cũng có thể gây bệnh. Khi nấu nướng, những người nội trợ thường áp dụng các phương pháp như chiên, xào, dùng nhiệt độ cao để làm món ăn, nhưng mọi người không biết rằng, những phương pháp nấu ăn này dễ sinh ra nhiều khói dầu, trong các loại khói đó có các ankan có nguy cơ dẫn tới ung thư cao, và các chất hít vào tương tự như PM2.5 này, không những ảnh hưởng tới da, còn dẫn tới nguy cơ mắc ung thư phổi.

 

TĐMVSK sưu tầm

9 loại thực phẩm giả gây hại cho sức khoẻ

9 loại thực phẩm hay bị làm giả bằng nhựa, cao su gây rối loạn ngũ tạng và cách kiểm tra rất đơn giản

 

Còn vài ngày nữa là đến Tết rồi và đây cũng là khoảng thời gian mà rất nhiều loại thực phẩm được làm giả để chuẩn bị “tung” ra thị trường ngày Tết. Dưới đây là 9 loại thực phẩm hay bị làm giả ngày Tết và cách nhận biết, mọi người hãy lưu ý để bảo vệ sức khỏe cho gia đình mình nhé.

Kiểm tra: Rắc một lượng nhỏ bột cà phê lên mặt nước đựng trong ly. Cà phê thật vẫn nổi, còn cà phê giả làm từ bột rễ rau diếp xoăn sẽ chìm xuống đáy và để lại một vệt màu.

Kiểm tra:

– Nhỏ một giọt sữa lên mặt phẳng nghiêng. Nếu giọt sữa để lại vệt màu trắng, đây là dấu hiệu của sữa nguyên chất. Nhưng nếu nó không để lại vệt màu nào, sữa này đã bị pha trộn.

– Nếu sữa chuyển sang màu vàng khi đun nóng đồng thời để lại vị đắng và vị xà phòng sau khi uống thì chắc chắn đã có chất giả tạo được trộn vào.

Kiểm tra:

Rắc một lượng nhỏ bột trà lên tờ giấy thấm ẩm. Nếu giấy chuyển màu vàng, cam hoặc đỏ, chắc chắn có sự xuất hiện của chất màu nhân tạo trong trà.

Kiểm tra:

Trộn vài hạt bất kỳ với rượu. Hạt tiêu nguyên chất sẽ nổi lên trong khi hạt đu đủ sẽ chìm xuống.

Kiểm tra:

Đường thật khi cho vào ly nước sẽ chìm thẳng xuống đáy. Trong khi đường chứa bột phấn sẽ lưu lại chất pha trộn lên bề mặt nước.

Kiểm tra:

Nhúng một miếng bông nhỏ trong paraffin, sau đó chà lên một phần bề mặt của trái ớt xanh hoặc bất cứ loại rau xanh nào khác. Nếu miếng bông chuyển sang màu xanh lá cây, có nghĩa thực phẩm đó đã bị nhuộm màu.

Kiểm tra:

Nếu kem bắt đầu sủi bọt khi nhỏ vài giọt nước cốt chanh lên bề mặt, trong kem chắc chắn có sự xuất hiện của bột giặt.

Kiểm tra:

Nhỏ vài giọt Hidro clorua HCL vào trong ống nghiệm chứa bột nghệ. Nếu dung dịch xuất hiện màu hồng, tím hoặc tím nhạt, bột nghệ là hàng giả.

Kiểm tra:

Đổ một thìa ớt bột vào cốc nước đầy. Ớt bột thật màu đỏ nhưng không hòa tan trong nước, còn bột ớt giả cho vào nước thì ngay lập tức nước sẽ biến thành một loại dung dịch màu đỏ do phẩm màu loang ra.

Ngoài những thực phẩm kể trên ra còn những thực phẩm có lượng hàng giả tràn lan trên thị trường, mọi người xem và để ý nhé.

Theo webtretho

 TĐMVSK sưu tầm

by Tháng Mười Hai 14, 2017 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Bí quyết sống khoẻ mạnh, Chia sẻ kinh nghiệm, Ung thư