https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2014/12/nangluongnguyentu.jpg

THIÊN-KHÍ-NĂNGNĂNG-LƯỢNG VI-BA

 Phần ITất cả chỉ là Năng-Lượng – Năng-Lượng Vi-Ba

 Những trang này giải-thích nguồn gốc năng-lượng trong cơ-thể dùng điều-khiển các ý-nghĩ, cử-động, sự tiêu-hóa, sinh-sản và tăng-trưởng; nói tóm lại là các chức-năng của thể-xác và tinh-thần của một cá-nhân. Điều này có vẻ là một trách-vụ to lớn và khó-khăn, nhưng, các bạn sẽ thấy, những điều căn-bản thực-sự rất đơn-giản. Chúng ta được điều-khiển bởi nguyên-tử-năng !

  • Nguyên-Tử-Năng

Các nguyên-tử  gồm có một hạt nhân, bao vây bởi các điện-tử. Các điện-tử này đầy năng-tính, nghĩa là chúng được giữ tại chỗ trong khi xoay quanh hạt nhân bằng năng-lượng. Hơn nữa, khi càng ở xa hạt nhân ở trung-điểm, chúng càng mang nhiều năng-lượng. Các điện-tử có thể “nhảy” từ quỹ-đạo này sang một quỹ-đạo khác. Flanders và Swann giải-thích, chúng luôn nhảy từ trạng-thái năng-lượng cao tới trạng-thái năng-lượng thấp, ngoại trừ trường-hợp có sự giúp đỡ bên ngoài. Nghĩa là chúng nhảy từ quỹ-đạo ở xa trung-tâm tới một quỹ-đạo gần trung-tâm hơn. “Điện-tử nhảy” là nguyên-nhân tạo ra năng-lượng dùng bởi các sinh-vật.

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/09/tkn.gif

  • Các dạng năng-lượng

Năng-lượng hiện-hữu dưới nhiều dạng khác nhau trong trời đất, như cơ-năng làm các vật chuyển-động, quang-năng trong ánh sáng mặt trời, nguyên-tử-năng trong uranium, điện-năng trong sấm sét, nhiệt-năng trong lửa, hóa-năng trong dầu-hỏa. Sáu dạng năng-lượng – cơ-năng, hóa-năng, nhiệt-năng, điện-năng, quang-năng và nguyên-tử-năng – có thể hoán-chuyển theo các định-luật về nhiệt-động-học.

  • Năng-lượng sinh-học cần cho sự sống cơ-thể [1]

Các tế-bào luân-lưu đòi-hỏi phải có năng-lượng và hàng ngàn các phản-ứng hóa-học cần năng-lượng luôn xảy ra trong các tế-bào, trong từng giây đồng-hồ, mỗi ngày. Loại năng-lượng các tế-bảo cần tới là hóa-năng kết-hợp mà các điện-tử chung-dụng dùng để kết-hợp các nguyên-tử trong các phân-tử.

Cơ thể chúng ta chứa đựng hóa-năng để cải-biến thành điện-năng tạo ra các điện-kích thần-kinh, làm sinh ra nhiệt-năng để giữ nhiệt-độ cơ-thể ở 37°C (98.6°F) dù ở trong những ngày tháng lạnh lẽo, và tạo ra cơ-năng qua sự vận-hành của các cơ-bắp để chúng ta có thể di-chuyển.

Mặt trời là nguồn năng-lượng vĩ-đại. Nguồn năng-lượng này được thực-vật xử-dụng, qua tiến-trình quang-hợp để tạo ra carbohydrates, chất béo, hoặc proteins, là các dạng hóa-năng dự-trữ. Khi chúng ta ăn các sản-phẩm thực-vật và động-vật, carbohydrates, chất béo, và proteins sẽ trải qua một loạt các thay-đổi chuyển-hóa và dùng chúng để làm tăng-trưởng các cơ-bắp, điều-hòa các chức-năng của cơ-thể, hoặc tồn-trữ dưới dạng hóa-năng.

Sự hấp-thụ và xử-dụng năng-lượng tối-hảo rất quan-trọng đối với mỗi cá-nhân, đặc-biệt cho những người hoạt-động. Để có thể phát-huy đúng khả-năng, năng-lượng tồn-trữ trong cơ-thể phải được dùng một cách hữu-hiệu nhất có thể.

  • Năng-lượng trong cơ-thể được tồn-trữ như thế nào?

Năng-lượng trong cơ-thể sẵn-sàng để xử-dụng dưới dạng adenosine triphosphate (ATP). Đây là một phân-tử phức-tạp cấu-trúc bằng những kết-hợp năng-lượng cao, để khi được tách rời bằng tác-động enzyme có thể giải-tỏa năng-lượng nhanh cho một số các tiến-trình của cơ-thể, kể cả sự co rút cơ-bắp. ATP được xếp loại là một chất có năng-lượng cao và được tích chứa trong các mô ở những lượng nhỏ. Điều quan-trọng phải nhớ là ATP là nguồn năng-lượng có sẵn cho tất cả các chức-năng của cơ-thể, và các nguồn năng-lượng khác được dùng để cung-cấp thêm cho ATP, thay-đổi tùy theo nhu-cầu.

Một chất khác có năng-lượng phosphate cao là phosphocreatine (PCr), cũng được tìm thấy trong các mô ở những lượng nhỏ. Mặc-dầu nó không được dùng như một nguồn năng-lượng sẵn-sàng, nó có thể cung-cấp bổ-xung nhanh ATP.

ATP có thể được cấu-tạo từ carbohydrate, chất béo, hoặc protein sau khi những chất bổ-dưỡng này đã trải qua những chuyển-hóa sinh-hóa phức-tạp trong cơ-thể. PCr được làm ra từ ATP thặng-dư.

  • Các hệ-thống năng-lượng sinh-học

Cường-độ năng-lượng sản-xuất và tích-năng của năng-lượng là hai yêu-tố quyết-định việc phát-triển các hệ-thống năng-lượng sinh-học trong cơ-thể.  Cơ-thể tích-chứa năng-lượng dưới nhiều dạng khác nhau – trong ATP, PCr, glycogen của cơ-bắp. Để năng-lượng này có thể được dùng làm cho cơ-bắp co-rút và hoạt-động, nó phải trải qua một số phản-ứng sinh-hóa nào đó trong cơ-bắp. Những phản-ứng sinh-hóa này được dùng làm nền-tảng để phân-loại sự tiêu-thụ nặng-lượng của con người theo ba hệ-thống năng-lượng: hệ-thống ATP-PCr, hệ-thống lactic acid, và hệ-thống dưỡng-khí.

Hệ-thống ATP-PCr còn được gọi là hệ-thống phosphagen vì cả hai adenosine triphosphate (ATP) và phosphocreatine (PCr) đều có chứa phosphates. Chất năng-lượng cao này, nằm trong các cơ-bắp, nhanh chóng giải-tỏa năng-lượng khi một điện-kích đi tới cơ-bắp. PCr, cũng là một chất năng-lượng cao tìm thấy trong cơ-bắp, có thể tạo thành ATP nhanh khi ATP được dùng. Năng-lượng phát ra khi PCr tách rời để tạo thành ATP từ ADP và P. PCr cũng bị thiếu hụt và cần được bổ-xung khi dùng. Khả-năng kỵ-khí (anaerobic power) là danh-từ thường được dùng cho hệ-thống ATP-PCr.

Hệ-thống lactic acid không được dùng trực-tiếp như một nguồn năng-lượng để co-rút cơ-bắp, nhưng nó có thể giúp thay-thế ATP nhanh khi cần-thiết. Hơn nữa, lactic acid sinh ra như một sản-phẩm phụ có liên-hệ tới sự mệt-mỏi của cơ-thể.

Hệ thống thứ ba là hệ-thống dưỡng-khí. Nó cũng được gọi là hệ-thống thông-khí (aerobic system). Hệ-thống dưỡng-khí, tương-tự như hệ-thống lactic acid, không được dùng trực-tiếp như một nguồn năng-lượng để co-rút cơ-bắp, nhưng nó làm sinh-sản những lượng lớn ATP từ những nguồn năng-lượng khác trong cơ-thể. Qua một loạt các phản-ứng chuyển-hóa phức-tạp của carbohydrate, chất béo, hoặc protein kết-hợp với dưỡng-khí để tạo ra năng-lượng, carbon dioxide, và nước. Các phản-ứng này xảy ra bên trong bộ-phận năng-lượng của tế-bào, gọi là mitochondrion. Một loạt các sự-cố sản-xuất năng-lượng oxy-hóa chủ-yếu liên-quan tới tiến-trình thông-khí (aerobic processing), carbohydrates và các chất béo (và những lượng nhỏ protein) qua chu-kỳ Krebs và hệ-thống chuyển điện-tử. Tại các giai-đoạn khác nhau trong tiến-trình này, năng-lượng được giải-tỏa và ATP được cấu-tạo, mà phần lớn ATP được tạo nên trong tiến-trình chuyển điện-tử. Cuối cùng thì hydrogen và các điện-tử kết-hợp với oxygen để tạo ra nước.

Mặc-dầu mức-độ sản-xuất ATP thấp hơn, nhưng lợi-điểm lớn của hệ-thống dưỡng-khí so với hai hệ-thống năng-lượng kia là sự sản-xuất những lượng lớn năng-lượng ở dạng ATP. Hệ-thống dưỡng-khí được chủ-yếu dùng trong thể-thao để tăng-cường sự bền-bỉ, như khi chạy đường-trường.

Tóm lại, năng-lượng sinh-học trong cơ-thể con người giúp cho các tế-bào được sống và sinh-sôi nẩy-nở; làm cho các chức-năng vận-hành như đã được ấn-định; và cho cơ-thể chúng ta có nhiệt-độ (gọi là thân-nhiệt). Ngoài năng-lượng sinh-học, các tế-bào và chức-năng trong cơ-thế còn bị chi-phối bởi một lực-trường tạo nên bởi điện-tích của các lượng-tử  đã cấu-tạo nên chúng.

  • Cơ-thể có sự thông-minh riêng của nó [2]

Tây-Y gần đây đã bắt đầu tránh xa việc dùng thuốc và giải-phẫu, là việc thường làm của các bác-sĩ, để tiến về một ngành thường có tính-cách vô-định, hỗn-tạp được gọi tổng-quát là “Tâm-Thể Y-Khoa” (“mind-body medicine”). Sự chuyển-hướng hầu như là một điều bắt-buộc, vì nền y-khoa cũ chỉ dựa trên phần thể-lý đã bắt-dầu bị lung lay.

Thí dụ phương-pháp tâm-thần để chữa-trị ung-thư thường bị chế-nhạo trong khoảng thập-niên trước, nhưng ngày nay người ta đã áp-dụng nó vào việc trị-liệu ung-thư, ngay cả điều-kiểm bệnh tình bằng ý-chí. Dr. O. Carl Simonton, một chuyên-viên quang-tuyến  tại trường Đại-học Texas, đã gặp một bệnh-nhân đàn-ông 61 tuổi bị ung-thư cuống họng. Bệnh-tình người này rất trầm-trọng; bệnh-nhân nuốt rất khó-khăn và chỉ còn cân nặng 98 pounds. Trong niềm tuyệt-vọng, nhưng muốn thử dùng một biện-pháp tâm-lý, Dr. Simonton đã đề-nghị bệnh-nhân trợ-giúp liệu-sách quang-trị của ông ta bằng phương-pháp gợi hình. Bệnh-nhân được dạy cách gợi lại hình ảnh về ung-thư của họ thật rõ ràng. Sau đó, dùng một hình ảnh tâm-thần nào đó hiện ra trong trí, họ được nhắc gợi lại hình ảnh hệ miễn-nhiễm trong cơ-thể của họ đang có các bạch-huyết-cầu tấn công thành-công các tế-bào ung-thư và quét chúng ra khỏi cơ-thể, chỉ chừa lại các tế-bào khỏe mạnh ở lại. Dr. Simonton cho bệnh-nhân về nhà để họ tiếp-tục gợi lại hình ảnh như vậy nhiều lần trong ngày. Bệnh-nhân đồng-ý, và rồi khối u của bệnh-nhân nhỏ dần. Trong vài tuần sau, khối u thật sự nhỏ hẳn, và phản-ứng đáp-trả với quang-trị hầu như không bị các phản-ứng phụ. Sau hai tháng, khối u hoàn-toàn biến mất.

Chúng ta phải nhìn-nhận là cơ-thể con người có sự thông-minh riêng của nó. Khi một tế-bào máu di chuyển tới chỗ bị thương và bắt-đầu làm thành một cục bầm, nó không phải di chuyển một cách ngẫu-nhiên. Thực ra nó biết phải đi đâu, và phải làm gì khi tới đó, tương-tự như một nhân-viên cấp-cứu. Có sự “thông-minh” điều-khiển việc làm của nó.

Chúng ta đã biết cơ-thể là một hãng bào-chế thuốc lý-tưởng mà Thượng-Đế đã tạo nên. Nó sản- xuất chất tiết-niệu, thuốc giảm đau, thuốc an-thần, thuốc ngủ, trụ-sinh, và cả các thuốc chế-tạo bởi các hãng bào-chế thuốc, và chúng được làm ra tốt hơn. Liều-lượng luôn đúng và được cung-cấp đúng lúc. Các phản-ứng phụ có tối-thiểu và hầu như không có. Cách dùng thuốc đã có sẵn, là thành-phần của sự “thông-minh” nội-tại.

Nghĩ tới các sự-kiện trên, chúng ta đi tới ba kết-luận. Thứ nhất, sự “thông-minh nội-tại” ở mọi nơi trong cơ-thể. Thứ hai, trí thông-minh nội tại vượt xa bất cứ điều gì chúng ta có thể thay-thế từ bên ngoài. Thứ ba, sự thông-minh nầy quan-trọng hơn cả thế-lý của cơ-thể, vì, nếu không có nó, thể-lý sẽ mất định-hướng, không hình-dạng, và hỗn-loạn.

Sự thông-minh nội-tại của cơ-thể mạnh đến nỗi nếu nó lệch-lạc, y-sĩ sẽ phải đối-diện với những nghịch-lý thật-sự vô cùng to lớn.  Thí-dụ, mỗi tế-bào trong cơ-thể được chi-phối bởi DNA của nó, để có thể phân tách theo một nhịp-độ thành hai tế-bào, mỗi khi tế-bào mẹ phân-tách thành hai. Tiến-trình này không hoàn-toàn máy-móc. Một tế-bào phân-tách theo nhu-cầu riêng của nó cộng với các tín-hiệu từ các tế-bào chung quanh, từ não-bộ, từ các bộ-phận ở xa đang nói chuyện với nó qua các tín-hiệu hóa-học. Tế-bào phân-tách là một quyết-định được cân-nhắc cẩn-thận và kỹ-càng – ngoại-trừ trường hợp ung-thư.

  • Những kẻ đưa tin trong nội-thể

Các chuyên-gia thần-kinh hiện nay đưa ra giả-thuyết là não-bộ có một bộ-phận tu-bổ hóa-học phức-tạp mà trước đây hầu như không được biết tới. Vào những năm 1970s, một loạt phát-minh quan-trọng về một nhóm hóa-chất gọi là chất dẫn-truyền thần-kinh được tìm thấy.  Như tên gọi, các hóa-chất nầy truyền các điện-kích thần-kinh; chúng tác-động trong cơ-thể chúng ta như các “phần-tử thông-tin”, để các neurons của não-bộ có thể nói chuyện với các bộ-phận trong cơ-thể.

Các chất dẫn-truyền thần-kinh là những liên-lạc-viên từ não-bộ tới mọi bộ-phận trong cơ-thể để truyền-đạt cảm-giác, ước muốn, ký-ức, trực-giác, và ước mơ. Không một sự-cố nào hoàn-toàn thuộc về não-bộ. Cũng như không một điều nào hoàn-toàn về tinh-thần, vì chúng được trình-bày bằng các tín-hiệu hóa-học. Các chất dẫn-truyền thần-kinh ảnh-hưởng tới đời-sống của mọi tế-bào. Sự tìm thấy các chất dẫn-truyền thần-kinh làm cho sự giao-tiếp giữa tâm-trí và vật chất được luân-lưu nhẹ-nhàng hơn bao giờ hết. Chúng cũng lấp đi sự ngăn-cách hầu như chia rẽ giữa tâm-trí với thân xác.

  • Điện-từ-trường của cơ-thế và Năng-Lượng Vi-Ba

Tính-cách vật-lý của TKN bắt nguồn từ điện-năng của các lượng-tử tạo-thành các tế-bào trong cơ-thể. Điện-năng là tính-chất vật-lý của vật-chất để tạo ra lực khi ở cạnh một vật khác có điện-năng. Có hai loại điện-năng: dương và âm. Một chất có dương-điện sẽ bị đẩy ra khi ở cạnh một chất khác cũng có dương-điện, nhưng sẽ bị hút bởi một chất khác có âm-điện; những chất có âm-điện bị đẩy bởi các chất có âm-điện và bị hút bởi những chất có dương-điện. Một vật có âm-điện khi có thừa điện-tử, và ngược lại sẽ có dương-điện hoặc không có điện.

Điện-năng là một tính-chất bảo-tồn căn-bản của một số duy-lượng-tử, ấn-định sự tương-giao điện-từ của chúng. Các chất có điện-năng sẽ sinh ra điện-từ trường và bị ảnh-hưởng bởi các lực-trường này. Sự tương-giao giữa một vật di-chuyển có điện-năng với một điện-từ-trường là nguyên-nhân tạo ra điện-từ-lực, là một trong bốn lực căn-bản chi-phối hoạt-động của mọi sự-vật.

Các cuộc thí-nghiệm trong thế-kỷ 20 đã chứng-minh là điện-năng mang bởi các duy-lượng-từ có thể đo được, là một bội-số của một đơn-vị nhỏ được gọi là điện-năng sơ-đẳng, e, gần bằng 1.602×10−19 coulombs (ngoại-trừ duy-lượng-tử quarks, có điện-năng là bội-số của e/3). Protons có điện-năng e, và electron có điện-năng −e. Ngành học về các lượng-tử có điện-năng, và sự tương-giao giữa chúng, môi-giới bởi các quang-tử, được gọi là điện-động-lực lượng-tử.

Tóm lại, cơ-thể con người vận-hành như một điện-từ-trường. Năng-lượng vi-ba (truyền đi như các làn sóng nhỏ) của lực-trường này chính là TKN mà Thiên-Chúa đã ban tặng cho con người tự bẩm-sinh. Đây là sinh-lực chi-phối các hoạt-động của các tế-bào và chức-năng trong cơ-thể. Chúng ta có thể dùng TKN để chữa lành: tái-tạo sự cân-bằng đúng của các chức-năng, bằng cách tác-động trên lực-trường này của bệnh-nhân.

Bên ngoài lực-trường này, chúng ta còn có nhiều lực-trường khác tạo ra bởi các lượng-tử giao-động trong vũ-trụ, theo các tần-số khác nhau. Các lượng-tử này mang năng-lượng vì có trọng-khối do sự hiện-hữu của lực-trường Higgs mà các khoa-học-gia mới kiểm-chứng được qua việc phát-hiện lượng-tử Higgs (Higgs boson) mới đây.

Vì lực-trường của cơ-thể con người bị bao bọc bởi các lực-trường khác trong môi-sinh, và ở ngoài vũ-trụ, nên TKN trong cơ-thể mỗi người cùng bị chi-phối bởi các lực-trường này. Để tăng-trưởng TKN trong cơ-thể, chúng ta phải cố-gắng tập-luyện để thâu-thập thêm năng-lượng từ các lực-trường trong môi-sinh và ở ngoài vũ-trụ.

  • Lượng-tử Higgs: Lượng-tử của Thượng-Đế!

Lượng-từ này giúp chúng ta giải-đáp được một thắc-mắc khoa-học nền-tảng trong vũ-trụ là làm thế nào mà sau “Tiếng Nổ Lớn” (Big Bang) (khi Thượng-Đế tạo-dựng vũ-trụ) mọi sự vật lại có thể được tạo-thành từ hư-vô, vào khoảng 13.7 tỷ năm trước.

Lượng-tử Higgs còn được gọi trong giới truyền-thông là lượng-tử của Thượng-Đế (God’s particle), dựa theo nhan-đề của một cuốn sách viết bởi Leon Lederman nói về đề-tài này (1993). Sự hiện-hữu của lượng-tử Higgs sẽ giúp cho việc chứng-minh sự hiện-hữu của lực-trường Higgs, và do đó cất-nghĩa được sự việc các vật-thể trong vũ-trụ có trọng-khối, và vì thế có năng-lượng. Lượng-tử Higgs chính là đầu mối Đấng Tạo-Hóa đã dùng để tạo-dựng mọi sự-vật trong vũ-trụ!

Quá-trình tìm-kiếm lượng-tử Higgs được tóm-tắt như sau:

Vào năm 1964, nhà vật-lý-học người Anh, Peter Higgs, đã viết một bài khảo-luận đáng ghi nhớ trong đó ông đưa ra một giả-thuyết để giải-thích tại sao các lượng-tử sơ-đẳng lại có trọng-khối. Ông tiên-đoán có sự hiện-hữu của một lực-trường 3 chiều chan-hòa trong vũ-trụ đã lôi kéo mọi sự-vật đi qua nó. Có những lượng-tử gặp khó-khăn nhiều hơn khi đi qua lực-trường này, do đó có trọng-khối nặng hơn. Nếu lực-trường này – được gọi là lực-trường Higgs – thực-sự hiện-hữu, thì – ông nói tiếp – phải có một lượng-tử liên-hệ với nó: đó là lượng-tử Higgs.

Không dễ gì kiểm-nhận được sự hiện-hữu của lượng-tử này. Phải trải qua hơn hai chục năm, với hàng ngàn chuyên-viên và hàng núi dữ-kiện thu-thập được từ hàng tỷ các va-chạm protons, và với sự xử-dụng lò phá-vỡ nguyên-tử (atom smasher) lớn nhất thế-giới – Hadron Collider vĩ-đại tại Trung-Tâm Thí-Nghiệm CERN, tổn-phí khoảng 10 tỷ Mỹ-kim để xây cất và vận-hành trong một đường hầm dài 17-dặm (27-cây số) bên dưới biên-giới hai nước Thụy-Sĩ và Pháp – để sản-xuất một năng-lượng phóng-thích cực cao trong một thời-gian cực ngắn, tương-tự như một phần tỷ hoặc 2 tỷ của một giây đồng-hồ sau Big Bang, đủ cao để sinh ra một lượng-tử Higgs. Lượng-tử này có trọng-khối bằng khoảng 125 lần trọng-khối của một proton.

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2014/12/Peter-Higgs.jpg

  • Các Tụ-Điểm Khí-Năng (Chakras) và Sức Khoẻ Con Người

Chúng ta cũng có những tụ-điểm khí-năng trong cơ-thể, gọi là chakras (danh-từ Hindu gọi là luân-xa) vận-chuyển như những máy phát sóng dọc theo kinh-mạch chánh (cột sống). Có bảy (7) tụ-điểm khí-năng chánh đếm từ cuối cột sống lên tới đỉnh đầu. Mỗi tụ-điểm khí-năng tạo ra các “con lốc” điện-từ-lực với mức-độ giao-động hoặc tần-số khác nhau, làm thành những lực-trường bao-bọc cơ-thể. Lực-trường có giao-động thấp nhất (sóng dài nhất và tần-số thấp nhất) phát ra từ các chakras ở thấp (như chakra 1 – huyệt hội-âm); giao-động cao nhất ở trên đỉnh đầu (chakra7 – huyệt bách-hội). Xin tham-khảo sách Thuật Dưỡng-Sinh: Tự Chữa Bệnh Bằng Thiên-Khí-Năng của Đức Ông HMT [3] để biết rõ vị-trí, chức-năng và sự xử-dụng các chakras trong việc trị-liệu.

Thân-xác con người có các hệ-thống luân-lưu là máu, khí-năng và hạch-dịch. Qua các kinh-mạch chạy theo chân tay và thân mình, ở phía trước và phía sau, và nhờ các đường kinh phụ, khí-năng và sinh-lực luân-lưu qua mọi bộ-phận và các mô trong cơ-thể. Khi ba hệ-thống nầy hoạt-động quân-bình thì con người khỏe mạnh. Nhưng khi chúng bị bế-tắc, luân-lưu không điều-hòa, các bộ -phận trong cơ-thể không nhận được đầy-đủ khí-huyết , bị mất quân-bình, làm cơ-thể suy-nhược, sinh bệnh. Khi có bệnh, trước hết nó ảnh-hưởng tới lực-trường, sau đó tới sự vận-hành của các chakras có liên-hệ trực-tiếp tới các hệ-thống hạch nội-tiết, và gián-tiếp tới các bộ-phận của cơ-thể. Vì vậy, muốn có một cơ-thể mạnh-khỏe, chúng ta phải có một “lực-trường cơ-thể” sung-mãn. Để chữa lành cơ-thể, chúng ta phải chữa lành lực-trường cơ-thể trước – giải-tỏa các bế-tắc và sự mất cân-bằng năng-lượng – để ngăn-chặn sự suy-nhược của cơ-thể và giúp nó hồi-phục. Mọi sự chữa lành đều dựa trên năng-lượng và ý-thức tâm-linh.

Tóm lại, TKN là điện-từ-lực của lực-trường tạo nên trong cơ-thể con người bởi sự giao-động của các lượng-tử trong các tế-bào và các năng-lượng hấp-thụ được từ môi-sinh và trong vũ-trụ, do sự tập-luyện (hít thở và ý-chí tập-trung) của con người. Năng-lượng này được truyền đi theo các vi-ba (sóng nhỏ) có tần-số cao hãy thấp tùy theo trạng-thái cảm-nhận và tâm-linh của mỗi người lúc đó. Việc xử-dụng năng-lượng này để tự chữa bệnh, hoặc trị-liệu cho một bệnh nhân khác, đều dựa trên các nguyên-lý được trình bày dưới đây ♦

Tiến Sĩ Nguyễn Dương
Nhóm Tông-đồ Mục-vụ Sức-khỏe

Xem tiếp: Phần II – Thiên-Khí-Năng và Y-Khoa Vi-Ba

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/09/tkn.gif

 

One Comment

  1. GIẢ KIM HÙN says:

    CÁM ƠN ĐẪ GỞI BÀI NÀY, NÊN QUẢNG BÁ CHO NHIỀU NGƯỜI BIẾT ĐỂ VẬN DỤNG VÀO CUỘC SỐNG ĐỂ TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO MÌNH VÀ CHO CỘNG ĐỒNG