Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta)

Bộ sách và video 10 quyển “Tin Mừng Như Đã Được Vén Mở Cho Tôi”

Bộ sách và video 10 quyển “Tin Mừng Như Đã Được Vén Mở Cho Tôi”

” Bài Thơ Của Con Người – Thiên Chúa”
hay Tin Mừng Như Đã Được Vén Mở Cho Tôi”
Một tác phẩm độc nhất vô nhị
Tác giả: Maria Valtorta
Dịch giả: Nữ tu Phạm Thị Hùng CMR

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2015/03/gioi-thieu.jpg

Trích Lời Giới Thiệu của linh mục Giuse Hoàng Minh Thắng
https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/05/cavathanhgia.gif

”Bài Thơ Của Con Người – Thiên Chúa” hay ”Tin Mừng Như Đã Được Vén Mở Cho Tôi” của bà Maria Valtorta là một tuyệt tác độc nhất vô nhị trong nền văn chương của Kitô giáo.

Các thị kiến không chỉ bao gồm toàn cuộc đời Chúa Cứu Thế, mà còn trình thuật quãng đời thơ ấu của Mẹ Maria. So sánh với các tác phẩm được mạc khải khác, tác phẩm của bà Maria Valtorta đầy đủ nhất và rất chính xác trong tương quan với bốn Phúc Âm. Các thị kiến đã được viết lại ngay lập tức và một cách trực tiếp sau khi được vén mở.

Các trình thuật rất trung thực với Phúc Âm, và giúp người đọc hiểu bối cảnh các giáo huấn của Chúa Giêsu với rất nhiều chi tiết súc tích, sống động hấp dẫn. Đặc biệt tác phẩm bao gồm các hiểu biết sự kiện lịch sử, địa lý, trắc địa, địa chất, khoáng chất và phong cảnh chính xác về Thánh Địa, khiến cho các chuyên viên kinh thánh và các học giả phải kinh ngạc.

Bạn không bị bắt buộc phải tin, vì đây không phải là tín lý. Nhưng cũng đừng bỏ lỡ một cơ hội đọc một tác phẩm hay, và đừng nản lòng vì mấy chục trang dẫn nhập khô khan. Hãy kiên nhẫn vượt thắng nó và hãy đọc tác phẩm với tâm trí rộng mở, không thành kiến, đơn sơ, chân thành, bạn sẽ nếm hưởng được tình yêu bao la của Thiên Chúa Ba Ngôi, sẽ yêu mến Chúa Giêsu, Mẹ Maria, Cha Thánh Giuse nhiều hơn và xót thương nhân loại sâu xa hơn. Và cuộc sống của bạn sẽ được biến đổi.

Như thế, tình yêu bao la hải hà Thiên Chúa dành cho loài người không chỉ được biểu lộ ra trong công trình tạo dựng, qua đó muôn loài muôn vật đều vén mở cho thấy Đấng Tạo Hóa, mà nhất là được mạc khải trong công trình cứu chuộc, qua chính cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô.

Tình yêu của Thiên Chúa thiên hình vạn trạng và các mạc khải tình yêu đó cũng thiên hình vạn trạng và vô cùng tận. Vì mọi thụ tạo đều phản ánh quyền năng của Thiên Chúa nên có thể nói có bao nhiêu người, có bao nhiêu thú vật, cỏ cây hoa lá là hay chất liệu trong vũ trụ mênh mông bát ngát này là có bấy nhiêu mạc khải về Thiên Chúa.

-Theo lời kể của Linh Mục Leo Maasburg, phụ trách các Nam thừa sai bác ái của Mẹ Têrêxa tại Vienne, thủ đô nước Áo, và là người thỉnh thoảng giải tội cho Mẹ trong 4 năm, Mẹ Têrêxa luôn luôn mang theo ba cuốn sách khi di chuyển: Đó là sách Thánh Kinh, Kinh Thần Vụ và một cuốn sách thứ ba. Khi cha hỏi Mẹ là sách gì, thì Mẹ trả lời là một cuốn sách của bà Maria Valtorta. Khi cha hỏi nội dung cuốn sách, thì Mẹ trả lời và lập lại một cách đơn sơ ”Cha hãy đọc nó”.

– Một năm trước khi cha Pio thành Pietrelcina mang năm dấu thánh (1887-1968) qua đời, bà Elisa Lucchi, một ngưới tới xưng tội với cha xin lời khuyên liên quan tới việc đọc tác phẩm ”Bài Thơ Của Con Người-Thiên Chúa” cha Pio trả lời: ”Không những cha cho phép, mà còn khuyên con đọc nó nữa”.
-Năm 1982, do yêu cầu của nhiều độc giả của bà Maria Valtorta, linh mục Franjo xúi chị Marija, một trong các thanh thiếu niên được trông thấy và nói chuyện với Đức Mẹ, hỏi Đức Mẹ xem có thể đọc cuốn sách này không, thì Đức Mẹ trả lời: ”Các con có thể đọc nó”.
-Ngày 27-1-1988, trong một cuộc phỏng vấn dành cho ông Jan Conell, một trạng sư người Mỹ, chị Vicka, một trong các người trẻ nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra và nói chuyện với Đức Mẹ, cho biết chi tiết hơn.

Hỏi: Có một mạc khải tư gồm 4 cuốn của Maria Agreda, tựa đề ”Kinh Thành Thần Bí của Thiên Chúa”. Giáo Hội đã chấp thuận khảo luận này như là mạc khải tư. Chị có biết gì về tác phẩm này không?
Đáp: Chắc chắn là tôi có biết chứ. Đức Mẹ đã nói tới tôi rằng đó là một văn bản đích thực kể lại cuộc đời Mẹ.

Hỏi: Có các sách nào khác thuộc loại này mà Đức Mẹ đã nói với các bạn không?
Đáp: Có. Bộ ”Phúc Âm Như Đã Được Mạc Khải Cho Tôi” mười cuốn của bà Maria Valtorta. Đức Mẹ nói rằng: ”Phúc Âm như đã được mạc khải cho tôi” là sự thật.

Hỏi: Chúng ta thật có phúc khi biết được điều này chị Vicka!
Đáp: Vâng, Đức Mẹ đã nói rằng nếu một người muốn biết Chúa Giêsu thì phải đọc ”Phúc Âm Như Đã Được Vén Mở Cho Tôi” của bà Maria Valtorta. Cuốn sách này là sự thật.

Vào cuối thập niên 1990 Trung tâm xuất bản Valtorta đã nhận được một tấm hình của chị Vicka đang quỳ cầu nguyên trên mộ của bà Maria Valtorta trong nhà thờ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời của dòng Các Nam Tôi Tớ của Đức Maria tại Firenze.

Kết luận
Tuy chưa được Giáo Quyền thừa nhận là mạc khải, bộ sách ”Phúc Âm Như Đã Được Vén Mở Cho Tôi” là một tác phẩm tuyệt vời cả trên bình diện văn chương. Bạn không bị bắt buộc phải tin, nhưng đàng khác cũng không nên có thành kiến, đặc biệt khi các thành kiến ấy đến từ người khác và được lập đi lập lại một cách máy móc, không được kiểm thực và không có bằng chứng chính xác nào.
Hãy biết thưởng thức tác phẩm với tâm trí rộng mở, đơn sơ, tự do, thanh thoát và tự lượng định lấy những gì bạn cảm nhận được. Nếu bạn cảm thấy gần Chúa hơn, hiểu biết và yêu mến Chúa nhiều hơn, nhất là sống đức tin-cậy-mến với nhiều ý thức và dấn thân hơn, thì đã đáng công lắm rồi. Mọi sự còn lại chính Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Cha Thánh Giuse sẽ nói cho bạn biết.

Roma 22-8-2012
Lễ Đức Maria Trinh Vương
Linh mục Giuse Hoàng Minh Thắng

Nguyên giáo sư Thánh Kinh Học Viện “Regina Mundi” trực thuộc Đại Học Giáo Hoàng Gregoriana,
Học Viện Quốc Tế Giáo Lý Viên Truyền Giáo “Mater Ecclesiae”, và
Phân Khoa Truyền Giáo Đại Học Giáo Hoàng Urbaniana Roma (1991-2011)

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/05/cavathanhgia.gif

 Download file PDF
https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif
Q1   2   3   4   5   6   7   8    9   10
Download file word

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifQ1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Còn tiếp đăng nhiều quyển tiếp theo…
(xổ xuống danh sách phát phía trên bên trái để đến trực tiếp bài muốn nghe)

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifhttps://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifhttps://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifhttps://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifQuyển IV

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifhttps://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifhttps://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifQuyển III

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifhttps://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifQuyển II

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifQuyển I

Các con chẳng bao giờ suy nghĩ rằng  các con rất đắt giá đối với Cha (c9,5) – Từ biệt La-gia-rô (c6)

Các con chẳng bao giờ suy nghĩ rằng các con rất đắt giá đối với Cha (c9,5) – Từ biệt La-gia-rô (c6)

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2013/02/hap-hoi-vuon-cay-dau.jpg

5* NHỮNG NHẬP ĐỀ KHÁC NHAU:

E. “CÁC CON CHẲNG BAO GIỜ SUY NGHĨ RẰNG
CÁC CON ĐÃ ĐẮT GIÁ CHỪNG NÀO CHO CHA”

         Chúa Giêsu nói:

        Từ nay con đã hiểu biết những đau khổ đi trước cuộc tử nạn thực sự của Cha, bây giờ Cha sẽ cho con biết những đau thương của Cha trong cuộc tử nạn bằng hành động. Những đau đớn này sẽ đánh động tâm trí các con hơn khi các con chiêm ngắm. Nhưng các con suy niệm những cực hình của Cha rất ít, qúa rất ít. Các con chẳng suy nghĩ đến việc các con đã đắt gía chừng nào cho Cha, và phần rỗi của các con đã được thực hiện với bao là cực hình.

        Các con phàn nàn vì một tí trầy da, một cú va chạm, một tí nhức đầu. Các con không suy nghĩ rằng Cha, Cha chỉ còn là một vết thương, và vết thương trở nên trầm trọng hơn bởi rất nhiều thứ, và những thứ này tự sử dụng mình để hành hạ đấng tạo thành nên nó, bởi vì nó hành hạ Thiên Chúa Con đã bị hành hạ rồi, và nó không kính trọng Đấng Tạo Hóa của nó và là cha của việc tạo dựng.

        Nhưng các sự vật không đắc tội. Kẻ có tội là, và luôn luôn là con người, kẻ đắc tội từ ngày nó nghe Satan trong thiên đàng dưới đất. Các sự vật không có gai, không nọc độc, không độc ác cho tới lúc đó, các vật được tạo dựng cho con người, tạo vật được tuyển chọn. Thiên Chúa đã đặt con người làm vua, cho họ hình ảnh Người và giông giống như Người. Và trong tình yêu thân phụ của Người, Người không muốn các vật trở thành bẫy cho con người. Chính Satan đã gài bẫy, bắt đầu là trong con tim loài người, rồi cùng với hình phạt bởi tội, nó sản xuất cho họ những khó khăn và gai góc.

         Đây, Cha, một con người, Cha cũng chịu khổ cho các sự vật và bởi các sự vật, cùng với bởi con người. Con người đã cho Cha những hành hạ và lăng mạ, còn các sự vật là các khí giới.

         Bàn tay mà Thiên Chúa đã làm cho con người để phân biệt nó với các vật thô lỗ, bàn tay mà Thiên Chúa đã dạy con người sử dụng, bàn tay mà Thiên Chúa đã đặt xứng hợp với trí tuệ và cho nó có khả năng thi hành những mệnh lệnh của trí tuệ, phần chi thể rất hoàn bị này của các con, đáng lẽ nó phải chỉ có những âu yếm êm đềm cho Con Thiên Chúa, đấng chỉ có những âu yếm êm đềm cho nó, và chữa lành nó nếu nó bệnh. Nhưng nó đã phản động chống lại Con Thiên Chúa, đã đánh Người những bạt tai, những cái vả bằng tay bọc sắt. Nó tự trang bị khí giới, roi vọt, tự trở thành những gọng kìm để giật râu, giật tóc, và búa để đóng đinh.

         Những bàn chân con người, đáng lẽ nó phải lẹ làng chạy tới tôn thờ Con Thiên Chúa, nó đã lanh lẹ tới để bắt Cha, xô đẩy Cha, lôi kéo Cha qua các nẻo đường cho tới nơi các lý  hình,  và  cho  Cha những cú đá mà nó cho là bất chính nếu làm cho một con lừa bất kham.

         Miệng con người, đáng lẽ phải dùng để nói những lời – tiếng nói mà chỉ con người mới được ban giữa tất cả mọi sinh vật được tạo dựng – để ca ngợi và chúc tụng Con Thiên Chúa, đã tự làm đầy bằng những lời phạm thượng, những lời dối trá, những lời lăng mạ, cùng một lúc với nước bọt phun ra để chống lại Cha.

         Trí tuệ con người, một bằng chứng về nguồn gốc trên trời của nó, đã mòn mỏi để tưởng tượng ra những kiểu hành hạ tinh xảo nghiêm khắc nhất. Con người, toàn bộ con người, đã dùng tất cả những gì cấu tạo nên nó để hành hạ Con Thiên Chúa. Nó đã kêu gọi trái đất, dưới mọi hình thức, giúp nó trong việc hành hạ. Nó đã dùng đá của dòng suối làm tạc đạn để đả thương Cha, dùng cành cây làm dùi côn để đánh Cha, dùng sợi gai cuốn lại làm giây để lôi Cha và làm xẻ thịt Cha. Nó dùng chà gai làm triều thiên như lửa cắm vào cái đầu mệt mỏi của Cha. Nó dùng những khoáng chất như một cái roi lợi hại hơn. Nó dùng cả cây sậy làm dụng cụ để hành hạ, những cục đá trên đường làm bẫy cho đôi chân lảo đảo của người hấp hối phải leo lên để chịu đóng đinh.

         Rồi những thứ ở dưới đất liên kết với những thứ ở trên trời: Cái lạnh lúc hừng đông cho tấm thân đã qúa kiệt quệ vì cơn hấp hối trong vườn. Gió làm cho dữ dội hơn các vết thương, mặt trời làm tăng nhiệt và sốt, ruồi muỗi, bụi bặm làm mờ đôi mắt mệt mỏi mà tay bị trói không thể bảo vệ được.

         Và những thứ trên trời liên kết với những vải sợi che đậy sự trần truồng cho Con Người: đồ da trở nên roi, áo len dính vào các vết thương mở ra bởi roi đòn, làm cho khốn khổ ở mỗi cử động bởi sự cọ sát và xé rách.

         Tất cả, tất cả, tất cả đều dùng để hành hạ Con Thiên Chúa, đấng mà bởi Người, mọi sự được tạo thành, vào lúc Người trở nên tấm bánh dâng tiến Thiên Chúa. Tất cả mọi sự đều trở nên thù hận và chống lại Người. Maria ơi, Giêsu của con, Người không nhận được một sự khích lệ nào do bất cứ một cái gì. Giống như những con rắn độc trở thành điên tiết, tất cả mọi sự hiện hữu đều cắn xé vào da thịt Cha và làm tăng nỗi khổ của Cha.

         Phải nghĩ đến những điều ấy khi các con đau khổ. Hãy so sánh nỗi bất toàn của các con với sự toàn vẹn của Cha, nỗi khổ của Cha và nỗi khổ của các con, để nhận biết rằng Chúa Cha yêu các con, vì Người đã không yêu Cha vào giờ ấy, và hãy yêu Người với tất cả con người của các con, như Cha đã yêu Người, mặc dù sự khắt khe của Người.

 6*  TỪ BIỆT LAZARÔ

         Giêsu đang ở Bêtani. Bây giờ là buổi chiều, một buổi chiều yên tĩnh của tháng tư. Qua các cửa sổ lớn của phòng tiệc, ta thấy khu vườn của Lazarô toàn là hoa nở. Ngoài kia, vườn cây ăn trái giống như một đám mây những cánh hoa nhẹ. Một mùi thơm của mầu xanh mới, mùi hơi đắng của hoa các cây ăn trái, của hoa hồng và nhiều thứ hoa pha trộn nhau. Cùng theo vào với làn gió êm của buổi chiều, làm hơi gợn sóng chiếc màn gió giăng trên cửa ra vào, và làm rung động ánh sáng của chiếc đèn treo ở giữa phòng, một mùi thơm tươi mát của hoa dạ hương, hoa linh lan, hoa lài, pha lẫn với mùi tinh dầu hiếm qúi của thuốc thơm mà Maria Mađalêna đã xức cho Giêsu của cô. Mái tóc Người vẫn còn có vẻ đậm mầu hơn từ khi xức dầu.

         Trong phòng thấy có Simon, Phêrô, Mathêu và Batôlômêo. Không thấy các người khác, có lẽ họ ra ngoài vì bận việc.

         Giêsu đứng dậy khỏi bàn và quan sát những ru-lô giấy da mà Lazarô chỉ cho Người. Maria Magđala lượn quanh trong phòng. Cô giống như con bướm bị ánh sáng lôi cuốn, cô ta chỉ biết lượn đi lượn lại chung quanh Giêsu của cô. Matta trông chừng các người đầy tớ đang dọn đi những cái khăn rực rỡ qúi báu đã trải trên bàn.

         Giêsu đặt chiếc ru-lô xuống trên cái bàn nhỏ cao cẩn ngà voi nổi bật trên nền gỗ đen bóng, rồi Người nói: “Lazarô, ra ngoài đi.   Thầy cần nói chuyện với con”.

         -Lạy Chúa, ngay lập tức – Rồi Lazarô đứng dậy khỏi cái ghế của ông ở bên cạnh cửa sổ và theo Giêsu đi ra vườn, nơi những tia sáng sau cùng của ban ngày hòa lẫn với những tia đầu tiên của vầng trăng sáng rực rỡ.

         Giêsu đi về phía bên kia vườn, nơi có ngôi mộ của Lazarô, bây giờ đầy hoa hồng bao quanh cái cửa mộ rỗng. Bên trên, trên một tảng đá hơi nghiêng có khắc những chữ: “Lazarô, hãy ra ngoài!” Giêsu dừng lại ở đó. Ngôi nhà đã khuất sau các cây và các hàng rào cây, người ta không còn nhìn thấy nữa. Ở đây yên lặng tuyệt đối và cô quạnh tuyệt đối.

         -Lazarô, bạn Thầy – Giêsu nói trong khi đứng ngay trước mặt Lazarô và nhìn ông chằm chằm với nụ cười buồn trên khuôn mặt gầy và lợt lạt hơn thường lệ. “Lazarô, bạn Thầy, con biết Thầy là ai không?”

         -Thầy? Nhưng Thầy là Giêsu Nazarét, Giêsu êm dịu của con, Giêsu thánh của con, Giêsu toàn năng của con.

         -Những điều đó là với con. Còn với thế giới thì Thầy là ai?

         -Thầy là Đấng Messi của Israel.

         -Và sao nữa?

         -Thầy là đấng Thiên Chúa đã hứa, đấng thiên hạ đợi trông… Nhưng tại sao Thầy hỏi con vậy? Thầy nghi ngờ đức tin của con sao?

         -Không, Lazarô. Nhưng Thầy muốn ký thác cho con  một  sự thật. Chưa có ai biết điều này, trừ Mẹ Thầy và một trong những người của Thầy. Mẹ Thầy, bởi vì không có gì mà Mẹ không biết. Người kia, bởi vì nó tham dự vào chuyện này. Đối với những người khác, trong ba năm nay, Thầy đã nói nhiều lần, nhưng tình yêu của họ có hiệu qủa như một thứ thuốc mê, nó đặt trở ngại cho sự thật mà Thầy đã loan báo. Họ đã không thể hiểu hết… Nhưng thà rằng họ không hiểu, nếu không, để ngăn cản một tội ác, họ lại phạm một tội ác khác một cách vô ích, vì việc phải đến sẽ đến, mặc dầu là tội sát nhân. Nhưng Thầy muốn nói điều đó với con.

         -Thầy nghĩ rằng con yêu Thầy ít hơn họ sao? Thầy nói về tội ác nào vậy? Thứ tội ác nào phải xảy ra? Nói đi Thầy, nhân danh Thiên Chúa! – Lazarô bứt rứt.

         -Ừ, Thầy nói. Thầy không nghi ngờ tình yêu của con. Thầy chỉ nghi ngờ một chút rằng: chính ở con, Thầy ký gởi ý muốn của Thầy…

         -Ôi! Giêsu của con! Nhưng chuyện đó người ta chỉ làm khi người ta gần chết. Con, con đã làm khi con hiểu rằng con sẽ không trở lại, và con phải chết.

         -Nhưng Thầy, Thầy phải chết.

         -Không! – Lazarô phát ra một tiếng rên sâu thẳm.

         -Đừng có la lên. Đừng để ai nghe thấy. Thầy cần nói với một mình con. Lazarô bạn Thầy, con có biết lúc này đang xảy ra chuyện gì không? Lúc này là lúc con đang ở gần Thầy, trong tình bạn trung thành mà con dành cho Thầy ngay từ những lúc đầu tiên, và nó không hề bị xáo trộn bởi bất cứ một nguyên nhân tác động nào? Có một người, với những người khác, đang mặc cả về giá bán Con Chiên. Con biết con chiên đó tên gì không? Nó gọi là: Giêsu Nazarét.

         -Không! Qủa thực Thầy có những kẻ thù, nhưng không ai có thể bán Thầy! Ai? Đứa nào vậy?

         -Một trong những người của Thầy. Đó chỉ có thể là một trong những người mà Thầy đã làm cho nản lòng thê thảm. Một người mà vì mệt mỏi chờ đợi, muốn loại trừ con người mà từ nay chỉ còn là mối nguy hiểm cá nhân. Hắn tin hắn có thể vãn hồi danh tiếng, theo như hắn nghĩ, ở bên những kẻ mạnh của thế giới. Nhưng trái lại, hắn sẽ bị khinh miệt bởi thế giới những kẻ sống cũng như thế giới các kẻ ác phạm. Hắn đi đến chỗ chán ngán Thầy, mệt mỏi phải chờ đợi cái điều mà với mọi phương tiện, hắn cố gắng để đạt tới: sự vinh quang nhân loại, điều mà trước tiên hắn theo đuổi ở Đền Thờ, rồi hắn tin là có thể đạt được với Vua Israel, bây giờ hắn lại tìm kiếm nó trong Đền Thờ và nơi những người Rôma… Hắn hy vọng… Nhưng Rôma, nếu họ biết thưởng công những tôi tớ trung thành của họ, họ cũng biết chà đạp dưới chân, bằng sự khinh bỉ, những tên chó săn đê tiện. Hắn đã chán ngán Thầy, chán ngán chờ đợi, chán ngán cái gánh nặng hắn phải mang để làm người tốt. Đối với kẻ xấu, nếu phải tỏ ra tốt, họ phải giả vờ là mình tốt. Đó là một gánh nặng, người ta có thể chịu đựng một ít thời gian… và rồi… và rồi người ta không thể nữa… người ta sẽ tự giải phóng cho mình để lại trở nên tự do. Tự do? Đó là điều những kẻ xấu tin. Nhưng đó không phải là tự do. Thuộc về Thiên Chúa là tự do. Chống lại Thiên Chúa, đó là ngục tù với những thanh sắt và xiềng sắt, những gánh nặng và những roi đòn mà không một người tù khổ sai chèo thuyền nào, không một người nô lệ đi xây cất nào, phải chịu dưới làn roi của tên cai ngục như vậy.

         -Ai vậy? Nói cho con đi. Ai vậy Thầy?

         -Vô ích.

         -Không. Có ích chứ… A!… chỉ có thể là hắn: cái tên lúc nào cũng có việc trong nhóm của Thầy. Tên mà mới đây không lâu, đã xúc phạm đến cô em của con. Đó là Judas Iscariot.

         -Không. Đó là Satan. Thiên Chúa mặc xác thịt nơi Thầy: Giêsu. Satan mặc xác thịt nơi hắn: Judas Kêriot. Một ngày… rất xa rồi… ở đây, trong khu vườn của con, Thầy đã an ủi những nước mắt, Thầy đã tha thứ cho một linh hồn bị rơi vào đống bùn. Thầy đã nói rằng sự bị chiếm hữu là sự truyền nhiễm của Satan, nó chích thứ nước cốt thịt của nó vào trong vật thể để làm cho nó biến tính. Thầy đã nói đó là cuộc hôn nhân của linh hồn với Satan và với các thú tính. Nhưng sự chiếm hữu chỉ là một tí so với việc nhập thể. Thầy sẽ được chiếm hữu bởi các thánh của Thầy, và các thánh của Thầy cũng được chiếm hữu bởi Thầy. Nhưng chỉ mình Đức Kitô là Thiên Chúa đúng như Người là ở trên Trời, bởi vì Thầy là Thiên Chúa mặc lấy xác thể. Chỉ có một sự nhập thể Thiên Chúa. Cũng vậy, chỉ có một sự nhập thể Satan: Lucifer, đúng như nó là ở trong nước của nó, bởi vì chỉ trong việc giết Con Thiên Chúa, Satan mới nhập thể. Hắn, trong lúc Thầy nói với con đây, đang ở trước Đại Pháp Đình. Hắn lo toan cho việc hạ sát Thầy và dấn thân vào việc đó. Nhưng không phải hắn, mà là Satan. Bây giờ hãy nghe đây, Lazarô, người bạn trung thành. Thầy nói với con vài lời thỉnh cầu. Con đã không bao giờ từ chối Thầy điều gì. Tình yêu của con to lớn đến độ, vẫn không làm suy giảm sự kính trọng, con đã luôn luôn linh hoạt ở bên Thầy bằng hàng ngàn sự giúp đỡ, bằng biết bao dự phòng và bao lời khuyên khôn ngoan mà Thầy hàng chấp nhận, bởi vì Thầy thấy trong qủa tim con một lòng thật sự ước ao cho ích lợi của Thầy.

         -Ôi! Chúa của con! Nhưng niềm vui của con chính là được săn sóc Thầy. Con sẽ làm gì bây giờ nếu con không còn được săn sóc cho Thầy của con và Chúa của con nữa? Thật là qúa ít, qúa ít, những điều mà Thầy đã cho phép con làm! Món nợ của con đối với Thầy là người đã trả Maria lại cho tình yêu và danh dự của con, và Thầy đã ban sự sống lại cho con như là… Ôi! Tại sao Thầy nhắc cho con cái chết để làm cho con sống cái giờ này? Từ nay, tất cả sự sợ hãi về cái chết và tất cả những lo lắng của linh hồn, do Satan mang tới, vào lúc con phải trình diện trước Thẩm Phán Vĩnh Cửu, con đã vượt thắng hết, và khi đó là bóng tối… Giêsu, Thầy làm sao vậy? Tại sao Thầy run và tái mét hơn bao giờ hết? Mặt Thầy còn trắng bạch hơn bông hồng trắng này héo dưới ánh trăng. Ôi, Thầy! Dường như máu và sự sống đã rời bỏ Thầy…

         -Thật sự, Thầy giống như một người đang chết. Những mạch máu đã mở rộng. Toàn thể Jêrusalem, và từ đó Thầy có thể nói: tất cả các kẻ thù của Thầy ở giữa những người quyền hành của Israel, dính những cái miệng trống rỗng của họ vào Thầy, để hút máu và sự sống của Thầy. Họ muốn làm cho câm đi, cái tiếng nói mà từ ba năm nay đã quấy rầy họ, tất cả chỉ vì yêu họ… Bởi vì mọi lời Thầy, dù là những lời của tình yêu, đều là những lay động và mời gọi tâm hồn họ tỉnh ngộ. Nhưng họ không muốn nghe tâm hồn họ, và họ đã trói nó bằng sợi giây nhục dục chấp ba. Và không phải chỉ những người quyền hành… nhưng là toàn thể Jêrusalem sẽ hăm hở chộp lấy Đấng Vô Tội và muốn cái chết cho Người. Và cùng với Jêrusalem, là cả miền Juđê, và cùng với Juđê là Pêrê, Iđumê, miền Thập Tỉnh, miền Galilê, Syro-Phênici… toàn thể Israel họp nhau tại Sion  để mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô từ người sống thành người chết… Lazarô, con đã chết và đã sống lại, hãy nói cho Thầy: chết là gì? Con đã cảm thấy gì? Con nhớ được những gì?

         -Chết?… Con không nhớ được rõ ràng nó là thế nào. Từ một sự đau đớn lớn lao, tiếp đến một sự mệt mỏi lớn lao… Rồi hình như con không phải chịu đựng nữa, mà chỉ có một giấc ngủ say. Ánh sáng và tiếng động càng lúc càng trở nên yếu và xa xăm… Các cô em con và Maximin nói là con có làm những dấu hiệu tỏ ra đau đớn dữ dội… Nhưng con, con chả nhớ gì hết…

         -Đúng. Tình thương của Chúa Cha đã làm cho trung tâm cảm giác trí thức của người đang chết cùn lụt đi, để họ chỉ còn phải chịu đựng trong thân xác thôi, để nó được thanh tẩy trong cơn hấp hối, giống như một tiền luyện ngục. Nhưng Thầy… và từ cái chết, con nhớ được gì?

         -Chẳng có gì cả Thầy ạ. Con có một khoảng trống tối mù trong trí thức, một khoảng không trống rỗng. Trong đời con, con đã có một khoảng ngắt mà con không biết làm sao để nối liền lại. Con không nhớ. Nếu con nhìn vào đáy cái lỗ đen này, nơi đã giữ con trong bốn ngày, thì dù đó là ban đêm và con giống như ở trong bóng tối, và dù không nhìn thấy, con cũng cảm thấy cái lạnh ẩm bốc lên từ nội tạng và thổi lên mặt, đó là cảm giác. Nhưng khi con nghĩ tới bốn ngày này, con không có gì. Hư không, đó là từ để tả.

         -Đúng. Những kẻ trở lại thì không thể nói  được.  Mầu  nhiệm được tiết lộ từ từ cho những kẻ đi tới đó. Nhưng Thầy, Lazarô, Thầy biết điều Thầy sẽ phải chịu đựng. Thầy  biết  rằng  Thầy  sẽ  chịu đựng với tất cả ý thức. Không có một đồ uống nào làm cho dịu bớt, không một mê mệt nào làm cho cơn hấp hối của Thầy bớt khốc liệt. Thầy cảm thấy Thầy đang chết. Thầy đã cảm thấy nó… Thầy đã đang chết, Lazarô. Giống như người phải chịu đựng một thứ bệnh nan y, Thầy tiếp tục chết trong ba mươi ba năm nay rồi. Cái chết càng lúc càng gia tốc theo đà Thầy tới gần giờ này. Trước tiên, chết là biết rằng mình sinh ra để làm Đấng Cứu Chuộc. Rồi chết vì thấy mình bị đánh bại, bị kết án, chế diễu, bách hại, xiềng xích… Mệt chừng nào! Rồi… Chết bởi phải có ở bên cạnh, càng lúc càng gần, cho tới lúc nó quấn chặt lấy Thầy như con bạch tuộc với người đắm tàu, cái đứa sẽ trở nên cho Thầy một tên phản bội. Thật muốn nôn mửa! Bây giờ Thầy chết, bị xé nát vì phải nói “vĩnh biệt” với các bạn thân, và với Mẹ Thầy.

         -Ôi! Thầy! Thầy khóc? Con biết rằng Thầy cũng đã khóc trước mồ của con. Nhưng bây giờ… Thầy lại khóc nữa. Thầy lạnh ngắt. Tay Thầy lạnh như tay người chết. Thầy đau khổ… Qúa đau khổ!…

         -Thầy cũng là người, Lazarô. Thầy không phải chỉ là Thiên Chúa mà thôi. Là người, Thầy có những cảm giác, những tâm tình. Và tâm hồn Thầy lo lắng khi nghĩ đến Mẹ Thầy… Cũng vậy, Thầy nói với con, sự hành hạ trở nên kinh khủng ghê gớm cho Thầy bởi phải chịu đựng sự kề cận với tên phản bội, sự thù ghét qủi quái của đủ thứ người, sự câm điếc của những kẻ, tuy không ghét, nhưng không biết yêu cho linh hoạt, vì yêu một cách linh hoạt là phải trở nên như người yêu muốn và như người yêu dạy.  Trái lại, ở đây… Đúng, có nhiều kẻ yêu Thầy, nhưng họ vẫn là họ, chứng nào tật nấy. Họ không trở nên một cái tôi khác vì tình yêu đối với Thầy. Con có biết ai trong những người thân yêu nhất của Thầy, đã biết thay đổi bản tính tự nhiên của mình, để trở nên của Đức Kitô, như Đức Kitô muốn không? Chỉ có một người thôi: Em Maria của con. Nàng đã bước từ một thú tính hoàn toàn hư hỏng để tiến tới một siêu tính thần linh. Và việc đó nhờ một sức mạnh duy nhất là tình yêu.

         -Thầy đã cứu chuộc cô ta.

         -Thầy đã cứu chuộc tất cả bởi lời Thầy. Nhưng chỉ mình cô ta đã thay đổi hoàn toàn nhờ tác động của tình yêu. Nhưng Thầy đã nói: những khổ não đến với Thầy bởi tất cả những thứ này thật là kinh khủng. Và Thầy chỉ thở hắt ra khi tất cả đã được làm trọn. Sức lực của Thầy gập lại… Thập giá sẽ nhẹ hơn những hành hạ về trí tuệ và tình  cảm…

         -Thập giá?! Không! Ôi! không! Cái đó qúa tàn khốc! Qúa nhục nhã! Không! – Lazarô từ nãy đến giờ vẫn giữ đôi tay lạnh giá của Giêsu trong tay ông, trong khi đứng đối diện với Thầy của ông, bây giờ ông buông ra và ngồi sụp xuống cái ghế ở gần ông, lấy hai tay ôm mặt và khóc một cách tuyệt vọng.

         Giêsu lại bên ông, đặt tay trên đôi vai đang rung động vì nức nở. Người nói: “Cái gì vậy? Chính Thầy là kẻ sắp chết, phải yên ủi con là người sống? Bạn ơi, Thầy cần sức mạnh và sự giúp đỡ, và Thầy xin con. Chỉ có con mới có thể cho Thầy. Những người khác, rất tốt là họ không biết, bởi vì nếu họ biết, họ sẽ làm đổ máu… Thầy không muốn các con chiên trở thành những chó sói, dù là bởi tình yêu đối với Đấng Vô Tội. Mẹ Thầy… ôi! Trái tim Thầy như bị đâm thâu khi nói đến Mẹ!… Mẹ Thầy đã phải lo lắng chừng nào! Bà cũng đang chết vì kiệt quệ. Mẹ cũng đã chết từ ba mươi ba năm, và bây giờ Mẹ chỉ còn là một vết thương, giống như nạn nhân của một cuộc hành hình dã man. Thầy qủa quyết với con rằng những tư tưởng đó là một cuộc giao chiến giữa thần trí và con tim Thầy, giữa tình yêu và lý trí để quyết định là có chính đáng không việc xa lìa Mẹ, gởi Mẹ trở về ngôi nhà của Mẹ, nơi mà Tình Yêu đã làm cho Mẹ trở thành mẹ, và thưởng thức nụ hôn cháy lửa của Người và nhảy mừng trong sự xuất thần của kỷ niệm này, và với những con mắt linh hồn không ngừng xem thấy không khí bị thổi và bị lay động bởi làn ánh sáng của sứ thần. Ở Galilê, tin tức về cái chết của Thầy sẽ chỉ đến vào lúc hầu như Thầy đã có thể nói với Mẹ: “Mẹ ơi, con đã thắng!” Nhưng Thầy không thể, không, Thầy không thể làm như vậy. Giêsu đáng thương, bị đè nặng bởi tội lỗi thế giới, cần phải được khích lệ, mà Mẹ Thầy sẽ cho Thầy sự khích lệ này. Thế giới còn đáng thương hơn, nó cần cả hai Nạn Nhân. Bởi vì người đàn ông đã phạm tội với người đàn bà, nên Người Đàn Bà phải chuộc tội, cũng như Người Đàn Ông chuộc tội. Bao lâu thời gian chưa điểm, Thầy còn cho Mẹ những nụ cười bảo đảm… Nhưng Mẹ run… Thầy biết. Mẹ cảm thấy cuộc tra tấn đang tiến lại gần. Thầy biết. Và Mẹ đẩy nó ra do một sự ghê tởm tự nhiên, và do một tình yêu thánh. Cũng như Thầy, Thầy đẩy cái chết ra, bởi vì Thầy là một người sống mà phải chết. Nhưng khốn nạn, nếu Mẹ biết rằng chỉ còn năm ngày nữa… Mẹ sẽ không sống nổi cái giờ này. Nhưng Thầy muốn Mẹ sống, để có thể kéo ra sức mạnh từ làn môi Mẹ, cũng như Thầy đã kéo sự sống ra từ cung lòng Mẹ. Thiên Chúa muốn có Mẹ trên đồi Calvê của Thầy, để hòa nước của nước mắt đồng trinh Mẹ với rượu máu Thiên Chúa của Thầy, để cử hành thánh lễ Misa đầu tiên. Con biết Lễ Misa là gì không? Con không biết, con không thể biết. Đó là cái chết của Thầy được áp dụng trường tồn cho nhân loại còn sống hay đang phải đau khổ. Đừng khóc, Lazarô! Mẹ rất mạnh, Mẹ không khóc. Mẹ đã khóc trong suốt cuộc đời làm mẹ của Mẹ rồi. Bây giờ Mẹ không khóc nữa. Mẹ đã đóng đanh nụ cười trên khuôn mặt Mẹ… Con có thấy khuôn mặt Mẹ thế nào trong thời gian sau cùng này không? Mẹ đã đóng đanh nụ cười trên mặt Mẹ để khích lệ Thầy. Thầy bảo con hãy bắt chước Mẹ Thầy. Thầy không thể giữ cái bí mật của Thầy cho một mình Thầy nữa. Thầy nhìn khắp chung quanh để kiếm một người bạn chân thành và chắc chắn, Thầy đã gặp cái nhìn ngay thật của con. Thầy tự nhủ: “Với Lazarô”. Thầy, khi con có một ách nặng đè trên tim, Thầy đã kính trọng điều bí mật của con, và Thầy đã bảo vệ nó chống lại những tò mò, dù là rất tự nhiên của con tim. Thầy cũng xin con một sự kính trọng như vậy đối với bí mật của Thầy. Sau này… sau khi Thầy chết, con sẽ nói. Con sẽ nói về cuộc đàm thoại này, để người ta biết rằng Giêsu đã hoàn toàn ý thức để đến với cái chết, đến với những hành hạ mà Người đã biết trước. Và để người ta cũng biết rằng không có gì mà Người không biết, dù là về người khác, dù là về định mệnh của Người; cũng để người ta biết rằng trong lúc Người còn có thể chạy trốn, Người đã không muốn trốn, bởi vì tình yêu vô biên của Người đối với loài người chỉ cháy bằng sự hoàn tất lễ hy sinh của Người cho họ.

         -Ôi! Trốn đi Thầy! Trốn đi! Con muốn giúp Thầy chạy trốn ngay đêm nay. Có một lần Thầy đã chạy trốn sang Ai Cập! Bây giờ cũng hãy trốn đi. Nào, chúng ta đi ngay. Chúng ta mang theo Mẹ Maria và hai cô em của con, và chúng ta đi… Thầy biết, không một sự giầu sang nào có thể giữ con lại. Sự giầu có của con cũng như của Maria và Matta, là chính Thầy. Nào, chúng ta đi.

         -Lazarô ơi, khi ấy Thầy trốn là vì chưa đến giờ. Bây giờ giờ đã đến, nên Thầy ở lại.

         -Vậy thì con đi với Thầy. Con sẽ không rời Thầy.

         -Không. Con ở lại đây. Bởi vì được phép ăn con chiên vượt qua tại nhà mình, nếu nơi ở cách Jêrusalem không xa hơn khoảng đường được đi trong ngày Sabát. Vậy cũng như mọi năm, con sẽ ăn con chiên của con ở đây. Nhưng rồi hãy để các cô em của con tới… vì lẽ Mẹ Thầy… Ôi! Chẳng giấu gì con, ôi Tử Đạo, những bông hồng của tình yêu Thiên Chúa! Vực thẳm! Vực thẳm! Và ở kia, bây giờ đang nổi dậy, đang bốc lên những ngọn lửa thù ghét để cắn vào qủa tim Mẹ! Các cô em của con thì được. Các cô can đảm và linh hoạt… Và Mẹ Thầy sẽ là một kẻ hấp hối, cúi mình trên thi thể của Thầy. Một mình Gioan thì không đủ. Đó là tình yêu, Gioan, nhưng nó thiếu sự già dặn chín chắn. Nó sẽ trưởng thành để trở nên một người trong sự tan nát của những ngày sắp tới. Nhưng Mẹ sẽ cần đến các bà trên những vết thương ghê gớm của Mẹ. Con sẽ cho Thầy các em con chứ ?

         -Nhưng con luôn luôn cho Thầy tất cả, tuyệt đối tất cả, với niềm vui. Con chỉ khổ bởi vì Thầy hỏi con qúa ít!…

         -Con thấy Thầy không nhận của ai khác như Thầy đã nhận của các bạn ở Bêtani. Đó cũng là một trong những điều mà những kẻ bất công đã kết tội Thầy nhiều lần. Nhưng ở đây, giữa các con, Thầy tìm thấy đủ để an ủi Người vì những sự chua cay của người. Ở Nazarét, chính Thiên Chúa được an ủi ở bên cạnh Sự Hoan Lạc Độc Nhất của Thiên Chúa, còn ở đây là Người. Trước khi lên đường đến với cái chết, Thầy cám ơn con, người bạn trung thành, âu yếm, lịch thiệp, ân cần, biệt đãi, thông cảm, kín đáo, quảng đại. Thầy cám ơn con vì tất cả. Sau này Cha Thầy sẽ thưởng cho con.

         -Nhưng con đã có tất cả với tình yêu của Thầy và với sự cứu chuộc  của  Maria.

         -Ồ, không. Con còn phải có rất nhiều. Con sẽ có. Hãy nghe đây. Đừng thất vọng như vậy. Hãy cho Thầy sự thông minh của con, để Thầy có thể nói với con điều Thầy còn xin con nữa. Con hãy ở lại đây và chờ đợi…

         -Không. Điều đó thì không. Tại sao Maria và Matta được mà con không được?

         -Bởi vì Thầy không muốn cho con làm thối nát thân con như tất cả những người tự làm mình thối nát. Jêrusalem trong những ngày sắp tới sẽ hư thối như không khí ở chung quanh một xác chết đang thối rữa. Nó sẽ thình lình nổ tung khi một người qua lại vô ý đụng chân vào. Người bị nhiễm trùng làm lan sự nhiễm trùng. Chướng khí của họ làm cho những kẻ ít độc ác cũng trở thành điên, kể cả các môn đệ Thầy. Họ sẽ chạy trốn. Họ sẽ đi đâu trong sự hỗn loạn của họ? Tới nhà Lazarô. Trong ba năm nay, đã bao lần họ đến đây để tìm một cái bánh, một cái giường, một sự bảo vệ, một nơi trú, một vị Thầy… Bây giờ họ cũng sẽ trở lại. Giống như những con chiên bị tan đàn vì chó sói bắt mất kẻ chăn, chúng sẽ chạy về chuồng. Con hãy thu thập họ. Hãy làm cho họ lại can đảm. Hãy nói với họ rằng Thầy tha cho họ. Thầy giao phó cho con sự tha thứ của Thầy cho họ. Họ sẽ không được bình an vì đã bỏ trốn. Hãy bảo họ đừng rơi vào một tội lớn hơn, tức là tuyệt vọng về sự tha thứ của Thầy.

         -Tất cả đều chạy trốn à?

         -Tất cả, trừ Gioan.

         -Thưa Thầy, Thầy sẽ không bảo con đón nhận Judas chứ? Hãy làm cho con chết vì hành hạ, nhưng điều này thì đừng bảo con. Đã nhiều lần tay con run lên trên thanh gươm lo âu, muốn giết sự ô nhục của gia đình, nhưng con đã không làm, vì con không phải là kẻ tàn bạo. Con chỉ thử làm thôi. Nhưng con thề với Thầy rằng nếu con gặp lại Judas, con sẽ xiết cổ nó như một đứa phải chịu trận.

         -Con sẽ không bao giờ gặp lại nó nữa. Thầy qủa quyết điều đó với con.

         -Nó sẽ trốn? Không sao. Con đã nói: “Nếu con gặp nó”. Bây giờ con nói: “Con sẽ tìm gặp nó, dù là ở tận chân trời góc bể, và con sẽ giết nó”.

         -Con không được ước ao như vậy.

         -Con sẽ làm điều đó.

         -Con sẽ không làm, bởi vì nơi nó ở, con không tới được.

         -Ở trong giữa Đại Pháp Đình? Trong nơi Thánh? Ở những nơi đó cũng vậy, con sẽ gặp nó và con sẽ giết nó.

         -Nó sẽ không ở những nơi ấy.

         -Trong nhà Hêrôđê? Con sẽ bị giết, nhưng trước đó con đã giết nó rồi.

         -Nó sẽ ở nhà Satan. Còn con, con sẽ không bao giờ ở nhà Satan. Nhưng hãy bỏ ngay những tư tưởng sát nhân của con đi, nếu không, Thầy sẽ lánh xa con.

         -Ôi! ôi!… Nhưng… Vâng, vì Thầy… Ôi! Thầy! Thầy! Thầy!…

         -Ừ, Thầy của con… Con sẽ đón nhận các môn đệ, con sẽ củng cố cho họ, dẫn dắt họ về với bình an. Thầy là sự bình an. Và cả sau đó… sau đó con sẽ giúp họ. Bêtani sẽ luôn luôn là Bêtani, bao lâu sự thù ghét không đến lục soát ở cái tổ ấm tình yêu này, vì hy vọng làm phân tán ngọn lửa của nó. Nhưng trái lại, nó sẽ lan ra khắp thế giới, và thắp sáng tất cả lên. Lazarô, Thầy chúc lành cho con vì tất cả những gì con đã làm và những gì con sẽ làm.

         -Chẳng có gì. Chẳng có gì. Thầy đã kéo con ra khỏi sự chết, và Thầy không cho phép con bảo vệ Thầy. Vậy con sẽ làm gì?

         -Con đã cho Thầy những căn nhà của con. Con thấy không?  Điều đó đã được viết: căn nhà Thầy ở đầu tiên tại Sion tọa lạc trên mảnh đất thuộc về con. Căn nhà sau cùng cũng vậy nữa. Định mệnh đã cho Thầy là khách của con. Nhưng con không thể bảo vệ Thầy khỏi cái chết được. Thầy đã hỏi con ngay lúc đầu tiên của cuộc đàm thoại này rằng: “Con biết Thầy là ai không?” Bây giờ Thầy trả lời: “Thầy là Đấng Cứu Thế”. Đấng Cứu Thế phải hoàn tất sự hy sinh của mình cho tới việc sát tế sau cùng. Ngoài ra, con hãy tin rằng: Đấng bị treo trên thập giá, bị phơi bày ra trước cái nhìn khinh bỉ của thế giới, không phải là một người còn sống, mà là người đã chết. Bởi vì Thầy đã chết, bị giết bởi vắng bóng tình yêu hơn, và trước khi bị giết vì hành hạ.

         Và bạn ơi, còn một điều nữa: ngày mai, lúc hừng đông, Thầy sẽ đi Jêrusalem, và con sẽ nghe nói rằng dân thành Sion đã hoan hô vị Vua của nó như một kẻ chiến thắng, vị vua đầy hiền dịu, đi vào thành, cỡi trên một con lừa. Chớ gì sự khải hoàn này không làm cho con ảo tưởng, và không làm cho con đoán xét rằng Sự Khôn Ngoan đang nói với con đây đã không khôn ngoan trong buổi chiều êm đềm này. Còn nhanh hơn ngôi sao đổi ngôi vạch một đường trên nền trời rồi biến mất trong không gian không ai biết, lòng ưu ái của dân chúng cũng biến mất như vậy. Và trong vòng năm buổi chiều nữa, cũng vào giờ này, Thầy sẽ bắt đầu chịu sự hành hạ với một cái hôn lừa đảo, nó sẽ biến những cái miệng ngày mai mở ra để tung hô vạn tuế, thành những cơ đoàn phạm thượng ghê gớm, và những tiếng kêu kết án hung dữ.

         Phải, hỡi Sion, hỡi Israel, sau cùng ngươi sẽ có Con Chiên Vượt Qua. Ngươi sẽ có nó trong nghi thức sắp tới. Này đây, Hy Lễ đã được chuẩn bị từ bao thế kỷ. Tình Yêu đã sinh ra nó bằng cách sửa soạn nó như một cuộc phối hợp phu thê trong một cung lòng không tì ố, và Tình Yêu đã tiêu hao nó. Đây là Hy Lễ có ý thức, không phải như một con chiên, trong khi người bán thịt mài dao để cắt cổ nó, nó vẫn gặm cỏ non, hay không hề biết gì khi húc cái mũi hồng vào vú mẹ. Nhưng Ta, Ta là Con Chiên rất ý thức để nói “vĩnh biệt” với đời sống, vời người mẹ, với bạn bè, và đi đến với kẻ sát tế để nói: “Này tôi đây”. Tôi là của nuôi loài người. Satan đã đặt trong con người một cái đói không bao giờ được no nê, không bao giờ có thể no thoả. Chỉ có một thứ đồ ăn có thể làm cho no, bởi vì nó làm dịu cơn đói. Của ăn đó đây: Con Người. Đây là bánh của ngươi, đây là rượu của ngươi. Hỡi loài người, hãy ăn lễ Vượt Qua của ngươi. Hãy vượt qua biển đỏ lửa hoả hào của Satan. Được nhuộm bằng máu Ta, ngươi sẽ vượt qua và được thoát lửa hỏa ngục. Các ngươi có thể vượt qua. Các tầng trời, bị dồn ép bởi ước muốn của Ta, các cửa đời đời của nó đã hé mở. Hãy nhìn, hỡi vong linh các kẻ chết! Hãy nhìn, hỡi nhân loại đang sống! Hãy nhìn, hỡi các linh hồn sẽ mặc một thân xác trong tương lai! Hãy nhìn, hỡi các thiên thần của Thiên Đàng! Hãy nhìn, hỡi các qủi của hỏa ngục! Hãy nhìn, Lạy Chúa Cha! Hãy nhìn, ôi Thánh Linh! Lễ vật Hy Sinh mỉm cười, nó không khóc nữa.

         Tất cả đã được nói. Từ biệt bạn. Con cũng vậy, Thầy sẽ không thấy con nữa trước khi chết. Chúng ta hãy cho nhau cái hôn từ biệt, và đừng nghi ngờ. Họ sẽ nói với con: “Đó là thằng điên! Đó là thằng qủi! Một tên dối trá! Nó đã chết, mà nó nói nó là sự sống”. Với họ, và đặc biệt với chính mình con, hãy trả lời: “Người đã là, và Người vẫn là sự thật và sự sống. Người là kẻ thắng sự chết. Tôi biết điều đó. Người không thể chết mãi. Tôi chờ Người”. Và khi chưa cháy hết dầu của ngọn đèn mà bạn hữu chuẩn bị sẵn sàng để làm ánh sáng soi cho nhân loại được mời đến dự tiệc cưới của kẻ chiến thắng, thì Người – chú rể – đã trở lại. Và ánh sáng lần này sẽ không bao giờ tắt nữa. Hãy tin điều đó, Lazarô. Hãy vâng theo ước muốn của Thầy. Con nghe con chim họa mi này, nó hót dường như sau khi đã phải nín lặng vì tiếng nức nở của con. Hãy làm như nó. Tâm hồn con, sau những tiếng khóc không thể tránh được trên Lễ Vật Hy Sinh, nó sẽ hát với sự bảo đảm, bài ca của đức tin. Nguyện con được chúc phúc bởi Chúa Cha, bởi Chúa Con, bởi Chúa Thánh Thần.

         Con đã chịu đựng chừng nào suốt đêm, từ 23 giờ ngày thứ năm: mồng một tháng ba, cho tới năm giờ sáng ngày thứ sáu. Con thấy Chúa Giêsu trong nỗi lo âu hơi bớt hơn ở Gétsêmani một tí, đặc biệt là khi Người nói về Mẹ Người, về tên phản bội, và khi Người tỏ ra sợ hãi cái chết. Con vâng lệnh Chúa Giêsu để viết vào một cuốn sổ riêng, để làm thành một tập Cuộc Tử Nạn chi tiết hơn. Cha thấy khuôn mặt của con sáng nay… hình ảnh lờ mờ về những đau khổ đã chịu đựng… Con không nói hơn về sự kiện này, vì con ngượng không tả được.

 

by February 11, 2013 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta)
Cha đã khổ khi thấy Mẹ phải khổ – Cha đã là, vẫn là Con Thiên Chúa, cũng là Con Loài Người (9, 3+4)

Cha đã khổ khi thấy Mẹ phải khổ – Cha đã là, vẫn là Con Thiên Chúa, cũng là Con Loài Người (9, 3+4)

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2013/01/Duc-me-sau-bi.jpg

“Bài Thơ của Con Người – Thiên Chúa”

Viết bởi: Maria Valtorta

Chuyển ngữ:  Nữ tu Phạm Thị Hùng CMR

Cuộc Khổ Nạn – Quyển 9

3* NHỮNG NHẬP ĐỀ KHÁC NHAU:

C. “CHA ĐÃ KHỔ KHI THẤY MẸ CỦA CHA PHẢI KHỔ”

        Chúa Giêsu nói với con:

 Cha không quên những đau khổ của Maria Mẹ Cha: đau khổ bởi thấy Mẹ phải nát lòng vì viễn ảnh những đau thương của Cha, đau khổ bởi thấy Mẹ phải khóc. Vì thế Cha không từ chối gì cùng Mẹ. Mẹ đã cho Cha tất cả, Cha cũng cho Mẹ tất cả. Mẹ đã chịu hết mọi thứ đau thương, Cha cũng cho Mẹ tất cả niềm vui.

Cha muốn rằng khi các con nghĩ đến Mẹ Maria, các con hãy suy ngắm cơn hấp hối dài mà Mẹ đã chịu trong suốt ba mươi ba năm, và lên tới tột đỉnh dưới chân Thánh Giá. Mẹ đã chịu cơn hấp hối đó cho các con. Cho các con, những chế diễu của đám đông coi Người là mẹ một thằng điên. Cho các con, những phiền trách của bà con và của những nhân vật quan trọng. Cho các con, sự từ chối bề ngoài của Cha: “Mẹ và anh em Thầy là những kẻ làm theo ý Thiên Chúa”.

        Và ai đã làm hơn Mẹ trong việc vâng theo Ý Muốn đáng sợ này, là cái bắt Mẹ phải chịu tra tấn bởi nhìn thấy Con Mẹ chịu cực hình?

        Cho các con, những mệt nhọc khi cần phải đến tìm Cha ở nơi nọ nơi kia. Cho các con, những hy sinh: từ việc phải rời mái nhà nhỏ của Mẹ để trà trộn vào đám đông, tới việc từ bỏ quê quán để tìm đến ở giữa sự huyên náo của Jêrusalem. Cho các con, nhiệm vụ phải giao thiệp với kẻ luôn luôn che dấu sự phản bội trong qủa tim hắn. Cho các con, nỗi đau phải nghe thiên hạ kết án Cha là bị qủi ám, là theo tà giáo. Tất cả, tất cả cho các con.

        Các con chẳng biết rằng Cha yêu Mẹ Cha chừng nào. Các con chẳng suy nghĩ rằng con tim của người con Mẹ Maria nhậy cảm và tình nghĩa chừng nào. Các con nghĩ rằng các khổ hình của Cha chỉ là thuần túy thể xác, hay cùng lắm, các con kể thêm được khổ hình tinh thần do sự ruồng bỏ sau cùng của Chúa Cha.

        Không, các con ơi. Những tình cảm của con người, Cha đều cảm thấy. Cha phải khổ khi thấy Mẹ Cha phải khổ, khi thấy mình phải dẫn Mẹ như một con chiên tới nơi cực hình, phải làm cho lòng Mẹ tan nát bởi các cuộc chia ly liên tiếp, ở Nazarét trước khi đi rao giảng, cuộc từ giã cấp bách trước cuộc tử nạn của Cha mà Cha đã chỉ cho con, từ giã trước bữa Tiệc Ly mà Mẹ đã biết sự phản bội của Judas, rồi cuộc từ giã khủng khiếp trên Calvê.

        Cha đau khổ khi thấy mình bị khinh dể, bị ghét, bị vu khống, bị bao vây bởi những kẻ tò mò nguy hiểm, không chịu quay về với sự thiện, mà chỉ quay về sự ác. Cha đã khổ vì đủ mọi thứ dối trá mà cha nghe hay nhìn thấy ở chung quanh Cha: Sự gian dối của những người Pharisiêu giả nhân giả nghĩa, chúng gọi Cha là Thầy, và chúng hỏi Cha những câu hỏi, không phải bởi chúng tin vào sự thông biết của Cha, nhưng để dẫn Cha vào bẫy; sự gian dối của những người mà Cha đã ban cho biết bao ơn lành, mà họ đã trở nên những kẻ kết án Cha nơi Đại Pháp Đình hay nơi tòa án. Sự gian dối của những kẻ có dự mưu lâu dài, tinh tế như Judas, kẻ đã bán Cha mà vẫn làm ra vẻ mình là môn đệ, kẻ đã chỉ Cha cho lý hình bằng một dấu hiệu của tình yêu. Cha đã chịu đựng sự dối trá của Phêrô, kẻ bị bắt giữ bởi sự sợ hãi loài người.

Bao là dối trá, bao là phản tặc đối với Cha là Chân Lý! Ngày nay cũng còn biết bao dối trá có liên can tới Cha. Các con nói rằng các con yêu Cha, nhưng các con không yêu Cha. Các con đặt tên Cha trên môi các con, nhưng trong qủa tim, các con tôn thờ Satan, và các con theo các luật phản trái với luật của Cha.

        Cha đau khổ khi nghĩ rằng trước giá trị vô biên của sự hy sinh của Cha: lễ Hy Sinh của một Thiên Chúa, qúa ít người được cứu rỗi. Tất cả, Cha nói: tất cả mọi người, qua mọi thế kỷ của trái đất, thích sự chết hơn là sự sống đời đời, làm cho lễ hy sinh của Cha thành vô ích. Tất cả đều hiện diện trước mắt Cha. Và với sự hiểu biết này, Cha đã ra đi để gặp cái chết.

        Hỡi Gioan nhỏ, con coi Giêsu của con và Mẹ Người đã chịu đau khổ một cách sâu xa và lâu dài trong cái tôi luân lý của các Ngài. Vậy hãy kiên nhẫn, nếu con phải chịu đựng. “Không có môn đệ nào hơn thầy mình”. Cha đã nói rồi.

        Ngày mai, Cha sẽ nói về những đau khổ tinh thần. Bây giờ con hãy nghỉ ngơi. Bình an  cho  con.

        Tiếp đó Mẹ Maria đã trả lời cho lời cầu nguyện phát ra từ trái tim con, sau khi con đọc những lời được viết dưới mẫu ảnh Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ: “Lạy Mẹ rất dịu hiền của chúng con, xin hãy tỏ cho chúng con những bí mật của trái tim vô nhiễm Mẹ. Xin hãy cho một tia sáng rất êm đềm, rất trong trắng của Mẹ xuyên thấu vào trái tim chúng con, để thay đổi và chuẩn bị chúng con cho cuộc viếng thăm của Chúa Thánh Thần”. Và con đã thêm vào: “Lạy Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ con, xin hãy tiết lộ cho con những bí mật của trái tim Mẹ, và chuẩn bị tim con bằng ánh sáng của Mẹ”.

        Mẹ đã trả lời: “Mẹ đã dìm con vào trong trái tim Mẹ, và Mẹ cho con biết những niềm vui và những nước mắt của Mẹ. Mẹ đã cho chiếu vào tim con những luồng sáng bác ái của Mẹ, để làm cho con hiểu tiếng nói của Con Mẹ và những ánh sáng của Chúa Thánh Linh. Vì nếu không có ánh sáng của Thánh Linh, trái tim các con sẽ ở trong tối tăm và yên lặng. Luôn luôn là Chúa Thánh Linh, bạn tình của Mẹ, làm cho các con hiểu biết chân lý và thánh hóa các con cho Thiên Chúa. Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần phải hiện diện trong qủa tim các con, để các con có thể hiểu những bí mật của Thiên Chúa trong ba điều thể hiện này: Quyền Phép, Sự Cứu Chuộc, và Tình Yêu. Chúa Cha luôn luôn hiện diện trong các con thực của Người bởi lòng tốt của Người, Chúa Con thể hiện bằng giáo lý của Người, Chúa Thánh Thần bởi ánh sáng của Người, bởi vì Người không bao giờ vắng bóng ở nơi có sự thánh hóa, và lời của Giêsu con Mẹ là sự thánh hóa do sự ban phép của Chúa Cha, đấng yêu thương các con. 

4* NHỮNG NHẬP ĐỀ KHÁC NHAU:

D. “CHA ĐÃ LÀ, VÀ CHA VẪN LÀ CON THIÊN CHÚA,
NHƯNG CHA CŨNG LÀ CON LOÀI NGƯỜI”

         Chúa Giêsu nói:

        Sự đau khổ của cơn hấp hối về tinh thần của Cha, con đã chiêm ngắm trong buổi chiều thứ năm. Con đã thấy Giêsu của con ngã sụp như một người bị đánh tử thương, cảm thấy sự sống của mình chạy trốn qua các vết thương làm cho mất máu, hay như một người bị chế ngự bởi sự tổn thương tâm thần qúa sức chịu đựng. Con thấy sự tăng trưởng của tổn thương này đã đạt tới cực điểm của nó trong việc máu tràn ra, vì bị kích động do mất thăng bằng về tuần hoàn, bởi nỗ lực Cha đã làm để thắng mình và chịu đựng những sức nặng chụp xuống trên Cha.

        Cha đã là, và Cha vẫn là Con Thiên Chúa tối cao, nhưng Cha cũng là con loài người. Cha muốn rằng qua những trang này, lưỡng tính giống nhau và toàn thiện của Cha được giải thích rõ ràng.

        Do Thiên Tính của Cha, các lời Cha được làm chứng để tin, và nó cho lời Cha có những âm giọng mà chỉ mình Thiên Chúa có thể có. Do nhân tính của Cha, Cha có những nhu cầu, những khát vọng, những thống khổ mà Cha đã tỏ cho các con thấy là Cha chịu đựng trong xác thịt của một người thật, và Cha đề nghị với các con như một kiểu mẫu cho nhân tính của các con, cũng như Cha huấn luyện trí tuệ các con bằng giáo thuyết của Thiên Chúa thật.

        Qua dòng thời gian của bao thế kỷ, do những hành động tán loạn của nhân tính bất toàn của các con, các con đã làm cho thiên tính rất thánh của Cha cũng như nhân tính rất hoàn hảo của Cha bị giảm bớt, bị biến dạng trong khi các con trình bày lưỡng tính ấy. Các con đã làm cho nhân tính của Cha trở thành không thực tế và vô nhân, cũng như làm cho bộ mặt Thiên Chúa của Cha trở thành qúa nhỏ, bằng cách các con từ chối bao nhiêu điểm mà các con không muốn biết, hay vì các con không thể nhận ra với trí tuệ đã bị giảm thiểu bởi trụy lạc, tật xấu, thuyết vô thần, thuyết nhân bản, thuyết duy lý.

        Vào giờ bi thảm này, giờ khai mào cho những khốn nạn của toàn thế giới, Cha đến để làm dịu mát trong trí óc các con, bộ mặt lưỡng tính của Cha: Là Thiên Chúa và là người, để các con biết Cha đúng như Cha là, để các con biết Cha sau bao điều mà chủ nghĩa ngu dân đã che đậy Cha cho khỏi trí tuệ các con, để các con yêu Cha và trở về với Cha, và để các con được cứu rỗi nhờ trung gian của Cha. Đó là dung nhan Vị Cứu Tinh của các con mà ai tin và yêu Người thì được cứu rỗi.

        Trong những ngày này, Cha đã cho con biết những đau khổ thể chất của Cha, nó đã hành hạ nhân tính của Cha. Cha đã cho con biết những đau khổ tinh thần của Cha, nó liên kết, đan lồng vào và hòa tan với những đau khổ của Mẹ Cha, giống như những cây leo chằng chịt ở vùng nhiệt đới, người ta không thể gỡ ra được, không thể tách ra từng giây riêng biệt, mà chỉ có cách, với một lát dao, người ta cắt gọn hết để mở một lối đi; hay giống như các mạch máu của cơ thể, người ta không thể tách rời một mạch để máu không đi vào, bởi vì chỉ có một thứ máu lỏng làm đầy tất cả các mạch. Hay hơn nữa, người ta không thể ngăn cản một thai nhi đang thành hình trong lòng mẹ cho khỏi chết nếu người mẹ chết, bởi vì sự sống là vậy: sức nóng, của nuôi, máu của người mẹ, theo nhịp cử động của qủa tim bà, thấm nhập, chuyển vào cho thai nhi qua các nội màng để thai nhi sống, rồi sinh ra là một người.

        Mẹ, ôi người mẹ trong trắng đã mang Cha, không phải chỉ trong chín tháng mà các bà mang cái qủa của giống người, nhưng trong suốt đời Mẹ. Trái tim chúng ta đã liên kết bởi những sợi giây thiêng liêng và luôn luôn cùng một nhịp đập. Không một giọt nước mắt từ mẫu nào rơi xuống mà không thấm ướt trái tim Cha bằng muối của nó, và không một tiếng rên rỉ nội tâm nào của Cha mà không vọng vang trong lòng Mẹ để khơi dậy nỗi đau thương của Mẹ.

        Các con khổ khi thấy bà mẹ của một đứa con đang chờ chết vì một chứng bệnh nan y, hoặc mẹ của một kẻ bị kết án tử hình bởi sự nghiêm khắc của công lý loài người. Vậy hãy nghĩ đến Mẹ Cha là người mà ngay từ phút đầu tiên cưu mang Cha, đã run sợ khi nghĩ đến Cha sẽ bị kết án; người mẹ mà từ lần đầu tiên cho Cha một cái hôn trên làn da mềm đỏ hồng của bé sơ sinh, đã cảm thấy những vết thương tương lai của con mình. Người mẹ này đã muốn cho Cha mười, một trăm, một ngàn lần sự sống của mình, để ngăn cản Cha trưởng thành và tiến tới lúc phải sát tế hy sinh. Người mẹ này đã biết, đã phải ước ao cái giờ kinh khủng này để nhận lãnh Thánh Ý Chúa, vì vinh danh Chúa và vì lòng tốt đối với nhân loại. Không, không có một cơn hấp hối nào dài hơn, và chấm dứt trong một đau thương lớn hơn cơn hấp hối của Mẹ Cha.

        Và không có một đau khổ nào lớn hơn và hoàn toàn hơn đau khổ của Cha. Cha là một với Chúa Cha. Người đã yêu Cha bằng tất cả vĩnh cửu như một mình Thiên Chúa có thể yêu. Người được thỏa lòng nơi Cha, và Người tìm thấy nơi Cha niềm vui Thiên Chúa của Người. Và Cha, Cha đã yêu Người như một mình Thiên Chúa có thể yêu, và Cha đã tìm thấy niềm vui Thiên Chúa của Cha trong sự hợp nhất với Người. Những tương quan khôn tả nối kết đời đời Chúa Cha với Con Ngài thì không thể giải thích được, dù là với ngôn ngữ của Cha, vì nó toàn vẹn, trong khi sự thông minh của các con thì không toàn vẹn. Các con không thể hiểu, không thể biết được Thiên Chúa là gì bao lâu các con chưa ở với Người trên Trời.

        Và rồi, giống như sức của nước dâng cao ép vào bờ đê, Cha cảm thấy sự công thẳng của Chúa Cha đối với Cha cứ tăng trưởng lên từng giờ và từng giờ. Để làm chứng nhân chống lại loài người hung bạo, không muốn hiểu Cha là ai, trong đời sống công khai của Cha, Người đã mở Trời ra ba lần: ở sông Giođan, trên núi Tabor, và ở Jêrusalem buổi chiều trước cuộc tử nạn. Nhưng Người đã làm thế vì loài người, chứ không phải để cho Cha một chút khuây khỏa. Từ đây, Cha là kẻ phải đền tội.

        Maria ơi, nhiều khi Thiên Chúa cho loài người biết một trong các tôi trung của Người, để lay động và lôi kéo họ về với Người qua sự trung gian của người tôi tớ này, nhưng cũng có khi bằng chính những đau khổ của người đó. Bằng cách ăn bánh cay đắng của sự công thẳng Thiên Chúa, người tôi trung này đích thân trả cái giá cho sự nâng đỡ và phần rỗi của anh em mình. Không phải sao? Các nạn nhân phải đền tội đều biết sự công thẳng của Thiên Chúa. Chỉ sau khi sự công thẳng được nguôi thì sự vinh quang mới tới. Điều đó không giống như tình yêu Cha: Cha cho các nạn nhân của tình yêu Cha những cái hôn. Cha là Giêsu, là Đấng Cứu Chuộc. Cha đã chịu đau khổ, và do kinh nghiệm cá nhân, Cha biết thế nào là cái khổ bị Chúa Cha nhìn với vẻ khắt khe, và bị Người bỏ rơi. Cha không bao giờ khắt khe và không bao giờ bỏ rơi ai. Cha tiêu hủy nạn nhân của tình yêu Cha giống như vậy, nhưng trong lò lửa của tình yêu.

        Giờ đền tội càng tới gần, Cha càng cảm thấy Chúa Cha xa dần. Luôn luôn: càng xa cách Chúa Cha, nhân tính của Cha càng cảm thấy bị giảm bớt sự nâng đỡ của thiên tính, và Cha chịu đựng điều đó bằng mọi cách.

        Sự xa cách Thiên Chúa dẫn tới sự sợ hãi, sự dính bén vào đời sống, sự lạt lẽo, sự mệt mã, sự buồn chán. Sự xa cách càng sâu xa, hậu qủa càng trầm trọng. Sự xa cách hoàn toàn sẽ dẫn tới tuyệt vọng. Vì theo thánh chỉ của Thiên Chúa, người ta càng cảm thấy bất xứng với Thiên Chúa thì người ta càng khổ, vì linh hồn sống động cảm thấy bị xa lìa với Thiên Chúa cũng như thân xác sống động cảm thấy bị cắt mất một chi thể. Đó là một nỗi đau lạ lùng, nặng nề, mà ai không cảm thấy thì không hiểu được. Cha đã cảm thấy. Cha đã phải biết tất cả để Cha có thể biện hộ cho các con trước tòa Chúa Cha về tất cả mọi vấn đề, kể cả nỗi thất vọng của các con. Ôi! Cha đã cảm thấy thế nào là câu nói: “Tôi cô đơn một mình. Tất cả đã phản bội tôi, bỏ rơi tôi. Kể cả Chúa Cha, kể cả Thiên Chúa cũng không giúp tôi nữa”.

        Chính vì thế mà Cha đã thực hiện những kỳ công bí nhiệm của ơn thánh trong những con tim khốn nạn vì bị thất vọng đè nặng, và Cha xin những linh hồn ưu tuyển của Cha uống chén rất đắng mà Cha đã có kinh nghiệm uống, để cho những người bị chìm trong biển thất vọng không từ chối Thánh Gía mà Cha trao cho họ như một cái neo cứu rỗi, nhưng họ hãy bám chặt vào nó để Cha có thể dẫn họ vào bờ bến hạnh phúc, nơi chỉ có sống trong bình an.

        Trong buổi chiều thứ năm, một mình Cha biết Cha cần Chúa Cha chừng nào! Tâm hồn Cha đã ở trong cơn hấp hối vì phải cố gắng vượt qua hai đau khổ lớn nhất của con người: phải từ giã người mẹ rất yêu mến của Cha và phải kề cận với người bạn bất trung. Đó là hai vết thương thiêu đốt trái tim Cha. Vết thương thứ nhất thiêu đốt bằng nước mắt, vết thương thứ hai bằng sự thù ghét.

        Cha đã phải bẻ bánh với tên Cain của Cha. Cha phải nói với nó như bạn hữu để không tố giác nó cho những người khác mà Cha biết có thể gây bạo động để ngăn cản tội ác, vả lại, vô ích, vì tất cả đã được ghi trong cuốn sách lớn của đời sống: sự chết thánh thiện của Cha và cái chết tự vẫn của Judas. Chúa Cha không kết án một cái chết vô ích nào nữa. Không dòng máu nào ngoài dòng máu của Cha phải đổ ra hay bị làm cho đổ ra nữa. Sợi giây thắt nghẹn sự sống này đã dấu sẵn trong cái túi dơ bẩn là thân xác tên phản bội. Máu nó đã được bán cho Satan. Máu này, khi rơi xuống đất, không thể được pha trộn với máu rất thanh khiết của Đấng Vô Tội.

        Hai vết thương này đã rất đủ để biến Cha thành kẻ hấp hối trong cái tôi của Cha. Nhưng Cha là kẻ phải đền tội, là nạn nhân, là con chiên. Con chiên này, trước khi bị cắt họng, đã biết dấu hiệu của thanh sắt đỏ. Nó biết những cú đánh, nó biết sự lột da, nó biết việc buôn bán ở hàng thịt. Không phải chỉ ở phút sau cùng nó mới biết cái lạnh của con dao đâm thấu vào họng để làm chảy máu và giết chết. Trước đó, nó đã phải từ bỏ tất cả: đồng cỏ, nơi nó đã lớn lên, người mẹ mà trong lòng bà, nó được nuôi nấng và sưởi ấm, các bạn bè nó đã cùng sống. Tất cả, Cha đã biết tất cả, Cha: Con Chiên Thiên Chúa.

        Vậy Satan tiến lại trong khi Chúa Cha rút về Trời. Nó đã đến vào lúc khởi đầu của sứ mạng Cha, để thử làm cho Cha trở lưng. Bây giờ nó lại đến. Đây là giờ của nó, ngày Sabát của Satan.

        Từng đoàn và từng đoàn qủi sứ ở trên mặt đất đêm ấy để dẫn dắt tới chung kết việc mê hoặc các con tim, và đặt vào đó ước muốn hạ sát Đức Kitô ngày hôm sau. Mỗi Pháp Đình Viên có thằng qủi của họ. Hêrôđê có tên qủi của ông, Pilatô cũng vậy, và cả những người Do Thái sẽ xin máu Cha đổ xuống trên họ, cũng được qủi hộ tống. Các tông đồ cũng có tên cám dỗ ở bên cạnh. Nó ru ngủ các ông trong khi Cha phải héo hon. Nó chuẩn bị cho các ông đi tới chỗ hèn nhát. Con hãy quan sát năng lực của kẻ trong sạch: Gioan, kẻ trong sạch, là người đầu tiên trong tất cả, đã tự giải phóng khỏi nanh vuốt của ma qủi và trở lại ngay với Giêsu của ông, và đã hiểu niềm ước ao không diễn tả được của Thầy mình, và dẫn Mẹ Maria đến cho Cha. Nhưng Judas có Lucifer, và Cha, Cha cũng có Lucifer. Hắn có nó ở trong tim, Cha có nó ở bên cạnh. Chúng ta là hai nhân vật chính của tấn bi kịch, và Satan săn sóc từng người trong hai chúng ta. Sau khi đã dẫn Judas tới điểm không tài nào trở lui được nữa, nó quay về phía Cha.

        Với mưu cơ hoàn hảo của nó, nó bày ra trước mắt Cha những hành hạ về thể xác với một vẻ thực tế không tài nào tả hơn được. Ở trong sa mạc cũng vậy, nó đã bắt đầu bằng thể xác. Cha đã thắng nó bằng lời cầu nguyện. Thần trí Cha đã chế ngự cái sợ của thể xác.

        Khi ấy nó bày cho Cha thấy chết như vậy là vô ích. Tốt hơn là hãy sống cho chính mình, không cần bận rộn tới loài người vô ơn; sống giầu sang, hạnh phúc, được yêu mến; sống cho Mẹ Cha để không làm mẹ phải khổ; sống để dẫn về cho Thiên Chúa, sau một thời gian dài giảng đạo cho biết bao người mà dù sau khi Cha chết, họ cũng sẽ không quên Cha. Như vậy Cha sẽ là thầy không phải chỉ trong ba năm, nhưng trong nhiều ngũ niên và nhiều ngũ niên. Và Cha sẽ kết thúc sau khi đã làm cho tất cả đều thấm nhuần giáo lý của Cha. Các thần của nó sẽ giúp Cha hấp dẫn loài người. Phải chăng Cha không thấy các thiên thần của Thiên Chúa không can thiệp để giúp Cha? Rồi sau đó Thiên Chúa sẽ tha cho Cha khi Ngài nhìn thấy mùa gặt các kẻ tin mà Cha dẫn về cho Ngài. Trong sa mạc nó cũng cám dỗ cha thử thách Thiên Chúa cách bất cẩn. Cha đã thắng nó bằng lời cầu nguyện. Thần trí Cha đã chế ngự các cám dỗ về tinh thần.

        Nó lại bày ra cho Cha sự từ bỏ của Thiên Chúa. Chúa Cha không thương Cha nữa. Cha bị chất đầy tội lỗi thế giới. Cha làm Người kinh tởm. Người lánh mặt, Người bỏ Cha một mình. Người giao phó Cha cho sự chế nhạo của một lũ đông hung dữ. Người không chấp nhận cho Cha dù một tí khích lệ thần linh của Người. Cô đơn, cô đơn, cô đơn. Vào giờ này, chỉ có Satan ở gần Đấng Kitô. Thiên Chúa và loài người vắng mặt, vì họ không yêu Cha. Họ ghét Cha hoặc họ dửng dưng. Cha đã cầu nguyện để lời cầu nguyện của Cha che lấp tiếng của Satan. Nhưng lời cầu nguyện của Cha không bay lên với Thiên Chúa nữa, nó rơi trở lại trên Cha như những cục đá trong khổ hình ném đá, và nó chà nát Cha dưới khối nặng của nó. Trước đây, lời cầu nguyện của Cha luôn luôn là một sự âu yếm dâng lên Chúa Cha, một tiếng nói bay lên và được đáp trả bằng những âu yếm của tiếng nói người cha, bây giờ nó như chết, nặng nề, tung lên một cách vô ích về một bầu trời khép kín.

        Khi ấy Cha cảm thấy sự chua cay từ đáy chén đắng, mùi vị của sự tuyệt vọng. Đó cũng là điều Satan mong ước: dẫn Cha tới tuyệt vọng để biến Cha thành nô lệ của nó. Cha đã thắng sự tuyệt vọng chỉ nhờ sức mạnh của riêng Cha, bởi vì Cha muốn thắng nó. Chỉ với sức mạnh của một người, vì Cha chỉ còn là một người, và Cha chỉ còn là một người không được Thiên Chúa giúp đỡ.

        Khi Thiên Chúa giúp thì rất dễ dàng để nâng bổng cả thế giới lên và cầm giữ nó như một trò chơi trẻ con, nhưng khi Thiên Chúa không giúp nữa thì sức nặng của một bông hoa cũng làm cho mệt mỏi.

        Cha đã thắng sự tuyệt vọng và kẻ tạo ra nó là Satan, để phục vụ Thiên Chúa và các con, trong khi ban Sự Sống cho các con. Cha đã biết cái chết. Không phải cái chết của kẻ bị đóng đinh – nó ít khốc liệt hơn – nhưng là cái chết toàn diện, có ý thức, của một tay đô vật té ngã sau khi đã toàn thắng, trái tim bị bể ra, máu trào ra do sự cố gắng vượt sức. Cha bị đổ mồ hôi máu. Cha đổ mồ hôi máu để trung thành với thánh ý Thiên Chúa.

        Đó là tại sao một thiên thần đã đến trong cơn đau khổ của Cha, để tỏ cho Cha thấy niềm hy vọng của bao linh hồn sẽ được cứu rỗi nhờ sự hy sinh của Cha, nó như một liều thuốc cho cái chết của Cha.

        Tên của các con! Đối với Cha, mỗi người là một giọt thuốc tiêm vào mạch máu của Cha, để làm cho nó lại căng lên và hoạt động trở lại. Mỗi người là một sự sống trở lại, một ánh sáng trở lại, một sức mạnh trở lại cho Cha, để trong những hành hạ vô nhân đạo, Cha không kêu la cái đau của một con người, không thất vọng đối với Thiên Chúa mà nói rằng Người qúa khắt khe và bất công đối với Nạn Nhân của Người. Cha đã tự nhắc lại tên các con, Cha đã thấy các con, Cha đã chúc phúc cho các con ngay từ lúc đó. Từ lúc đó, Cha đã mang các con trong trái tim Cha. Và khi đến giờ để các con xuất hiện trên trái đất, thì từ trên Trời, Cha đã nghiêng mình xuống để đón các con, hoan hỷ với tư tưởng rằng: một bông hoa tình yêu mới nở trên thế gian, và nó sẽ sống cho Cha.

        Ôi! hỡi những kẻ được chúc phúc của Cha, sự ủy lạo của Đức Kitô tử nạn! Mẹ Cha, người môn đệ của Cha, và các bà đạo đức vây quanh cái chết của Cha, nhưng các con cũng ở đó. Đôi mắt hấp hối của Cha đã thấy cùng một lúc, khuôn mặt tan nát của Mẹ Cha và khuôn mặt thân yêu của các con, và nó đã khép lại như vậy. Nó sung sướng để khép lại, bởi vì nó đã cứu rỗi các con. Ôi, các con là những kẻ đã xứng đáng sự hy sinh của một Thiên Chúa!

Cuộc Khổ Nạn – Quyển 9

Chương 1: NHỮNG NHẬP ĐỀ KHÁC NHAU:
A- “NGƯỜI CON CỦA THIÊN CHÚA VÀ CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG TÌ Ố
XUẤT HIỆN NHƯ MỘT CON SÂU”.

Chương 2: NHỮNG NHẬP ĐỀ KHÁC NHAU:
B- “CHỈ CẦN NÓI SỰ THẬT LÀ ĐỦ ĐỂ BỊ GHÉT”

 

by January 29, 2013 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta)
Chỉ cần nói sự thật là đủ để bị ghét (9,2)

Chỉ cần nói sự thật là đủ để bị ghét (9,2)

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2013/01/giuda-ban-Chua.jpg

“Bài Thơ của Con Người-Thiên Chúa”

Viết bởi: Maria Valtorta

Chuyển ngữ:  Nữ tu Phạm Thị Hùng CMR

CHƯƠNG 2: NHỮNG NHẬP ĐỀ KHÁC NHAU:

B- “CHỈ CẦN NÓI SỰ THẬT LÀ ĐỦ ĐỂ BỊ GHÉT”

        Chúa Giêsu nói:

        Cái nhìn  của Cha  đã  đọc được  hết con  tim  của Judas  Iscariot. Đừng ai nghĩ rằng sự thông sáng của Thiên Chúa không có khả năng thấu hiểu con tim này. Nhưng như Cha đã nói với Mẹ Cha là phải có nó. Khốn cho nó vì nó phản bội, nhưng phải có một tên phản bội.

        Lòng đầy phức tạp, tráo trở, qủi quyệt, tham lam, dâm đãng, trộm cắp, thông minh, kiến thức hơn phần đông các kẻ khác, hắn biết cách làm cho người ta phải nể. Vì táo bạo, hắn đã dẹp đường cho Cha, dù có khó khăn. Hắn thích nhất là ra khỏi hàng ngũ và làm tăng giá trị địa vị được tín nhiệm của hắn ở bên Cha. Tính hay phục vụ của hắn không do lòng bác ái, mà duy nhất chỉ là một thứ mà các con gọi là “người hay làm”. Điều đó cho phép hắn giữ túi tiền và lại gần phụ nữ. Hai điều đó cùng với điều thứ ba là chức vụ nhân đạo của hắn, hắn thích vì được thả lỏng.

        Người đàn bà trong trắng, khiêm nhường, dứt bỏ sự giầu sang thế gian, không thể không cảm thấy ghê tởm loại rắn độc này. Cha cũng vậy, Cha cảm thấy ghê tởm. Một mình Cha, Chúa Cha và Thánh Linh, biết Cha phải cố gắng nỗ lực biết bao để chịu đựng nó ở bên cạnh Cha, nhưng Cha sẽ cắt nghĩa cho con vào một lần khác.

        Cha không phải không biết sự thù hằn của các thầy cả, các Pharisiêu, các luật sĩ, các Saddu. Đó là những con cáo qủi quyệt, chỉ tìm đẩy Cha vào hang của chúng để xé Cha ra thành trăm mảnh. Chúng khát máu Cha và chúng giương bẫy khắp nơi để chụp lấy Cha, để có lợi khí kết án và làm cho Cha biến mất. Trong ba năm trường, chúng đã giương bẫy, và chúng chỉ hạ xuống khi chúng biết rằng Cha đã chết. Tối hôm đó chúng ngủ một cách sung sướng, vì tiếng nói kết án chúng đã im đi vĩnh viễn, chúng tin như vậy. Nhưng không, tiếng nói này chưa tắt, và nó không bao giờ tắt. Nó vang lên, vang lên, và nó nguyền rủa những kẻ giống như chúng của thời nay. Biết bao đau đớn cho Mẹ Cha vì những kẻ ấy. Và nỗi đau đớn này, Cha không bao giờ quên.

        Đám đông hay thay đổi, đó không phải là chuyện mới. Đó là một con mãnh thú, nó liếm tay người dạy thú nếu người này có trang bị roi da và cho nó một miếng thịt để làm dịu cơn đói của nó. Nhưng chỉ cần người này té ngã và không thể sử dụng cái roi da, hay không quăng mồi cho nó ăn, là nó chộp lấy ông ta và xé ra từng mảnh. Chỉ cần là người tốt và dám nói sự thật là đủ để bị đám đông ghét, sau những lúc đầu thiện cảm. Sự thật chính là lời khiển trách và cảnh cáo. Lòng tốt lấy cái roi da đi và làm cho những kẻ xấu không sợ gì nữa. Từ đó đưa đến những câu: “Đóng đanh nó vào thập giá” sau khi chúng đã hô “vạn tuế”. Đời sống làm thầy của Cha tràn đầy hai câu này. Và câu sau cùng là “đóng đanh nó vào thập giá”. Câu “vạn tuế” thì giống như việc lấy hơi của một ca sĩ để có thể lên cung bắc. Mẹ Maria, trong buổi chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, đã nghe lại trong lòng Mẹ những tiếng vạn tuế dối trá, đã trở thành những tiếng kêu đòi chết cho Con Mẹ, và lòng Mẹ tan nát. Điều này nữa, Cha cũng không quên.

        Tính nhân loại của các tông đồ thì ôi, nó lớn chừng nào! Cha mang nó trên cánh tay Cha để nâng nó lên trời, những cái khối nặng mà trái đất kéo ghì xuống. Kể cả những người biết mình không phải là thừa hành của một ông vua trần thế như kiểu Judas Iscariot, những người không như hắn, luôn tìm dịp để lên cao, để thay thế chỗ Cha trên ngai vàng, cũng luôn luôn khát khao danh vọng. Đã có một ngày, cả đến Gioan và anh ông cũng đã ước ao danh vọng này, nó làm chói mắt các con như một ảo ảnh cả về những sự trên trời. Đó không phải là khát vọng thuộc về Thiên Đàng mà Cha muốn các con có, nhưng đó là những tham vọng của con người ước rằng sự thánh thiện của mình được người ta biết tới. Nhưng không phải chỉ có thế mà thôi, đây là thứ tham vọng trao đổi, một thứ cho vay nặng lãi mà ở đó, người ta hiến một chút tình yêu cho đấng mà Cha đã bảo các con rằng phải hiến toàn bộ con người các con, để đòi lấy một chỗ ở bên phải Người trên Trời.

        Không, các con ơi, không. Trước hết phải biết uống tất cả chén đắng mà Cha đã uống. Tất cả, tức là với đức bác ái cho đi để đổi lấy sự thù ghét; lấy sự trong sạch chống lại tiếng kêu của giác quan; dũng cảm trong thử thách, toàn thiêu cho tình yêu Thiên Chúa và nhân loại anh em. Rồi sau khi đã hoàn tất hết những bổn phận đó, cũng còn nói: “Chúng tôi là những đầy tớ vô ích”, trong khi chờ đợi Cha Thầy cũng là Cha các con, nhờ lòng nhân từ của Người, ban cho các con một chỗ trong Nước Người. Phải tự bóc lột, như con thấy người ta bóc lột Cha trong sân tòa án, tất cả những gì là nhân loại, chỉ giữ lại điều cần thiết là sự trọng kính đối với hồng ân Thiên Chúa , đó là sự sống, và đối với anh em mà chúng ta có thể làm ích cho họ ở trên trời hơn là ở dưới đất, để Thiên Chúa mặc cho các con chiếc áo bất tử, được thanh tẩy trong máu Con Chiên.

        Cha đã tỏ cho con thấy những đau thương chuẩn bị cho cuộc tử nạn. Những điều khác, Cha sẽ chỉ cho con sau. Mặc dầu vẫn là những đau thương, nhưng nó cũng là sự nghỉ ngơi cho linh hồn con để chiêm ngắm. Bây giờ đủ rồi, hãy nghỉ ngơi bằng an.

 

by January 25, 2013 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta)
Cuộc Khổ Nạn – Quyển 9 chương 1 “Bài Thơ của Con Người-Thiên Chúa”

Cuộc Khổ Nạn – Quyển 9 chương 1 “Bài Thơ của Con Người-Thiên Chúa”

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2013/01/chua-giesu.jpg

BÀI THƠ CỦA CON NGƯỜI-THIÊN CHÚA

Viết bởi: Maria Valtorta

Chuyển ngữ:  Nữ tu Phạm Thị Hùng CMR

      Kính thưa qúy độc gỉa, 

     Để chuẩn bị bước vào Mùa Chay và Phục Sinh, TĐMVSK xin đăng quyển 9 “Bài Thơ của Con Người-Thiên Chúa” về Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu.

“Bài Thơ của Con Người-Thiên Chúa”

 MỤC LỤC

quyển 9

 Cuộc Khổ Nạn

1* Những nhập đề khác nhau: “Người con của Thiên Chúa và của người đàn bà không tì ố xuất hiện như một con sâu”   6

2* Những nhập đề khác nhau: “Chỉ cần nói sự thật là đủ để bị ghét”  11

3* Những nhập đề khác nhau:“Cha đã khổ khi thấy Mẹ Cha phải khổ”  14

4* Những nhập đề khác nhau:“Cha đã là, và Cha vẫn là Con Thiên Chúa, nhưng Cha cũng là con loài người”  18

5* Những nhập đề khác nhau: “Các con chẳng bao giờ suy nghĩ rằng các con đã đắt giá chừng nào cho Cha” 27

6* Từ biệt Lazarô                                                    30

7* Judas đi tìm các thủ lãnh của Đại Pháp Đình           47

8* Từ Bêtani tới Jêrusalem                                       61

9*  Giêsu vào thành Jêrusalem                                  70

10* Buổi chiều ngày Chúa Nhật lễ lá                           92

11* Thứ hai sau khi vào thành Jêrusalem (thứ hai Tuần thánh)  a- Ban ngày   98

12* Thứ hai trước lễ Vượt Qua (Thứ hai Tuần Thánh) b- Ban đêm    125

13* Thứ ba trước lễ Vượt Qua (Thứ ba Tuần Thánh) Ban ngày         134

14* Thứ ba trước lễ Vượt Qua(Thứ ba Tuần Thánh) Ban đêm          143

15* Thứ tư trước lễ Vượt Qua (Thứ tư Tuần Thánh) a- Ban ngày     149

16* Thứ tư trước lễ Vượt Qua  (Thứ tư Tuần Thánh) b – Ban đêm    207

17* Thứ năm trước lễ Vượt Qua (Thứ năm Tuần Thánh)  Ban ngày   218

18*  Mô tả phòng Tiệc Ly và sự từ giã Mẹ trước bữa tiệc sau cùng    242

19*  Bữa tiệc Vượt Qua                                           247

20* Suy niệm về bữa Tiệc Ly                                    293

21*  Hấp hối và bị bắt tại Gétsêmani                          296

22* Những phiên tòa khác nhau                               324

23*  Suy niệm về thái độ của Pilatô đối với Giêsu          366

24* Judas Kêriot sau việc phản bội.                            374

25* Nếu Judas đã qùi dưới chân Mẹ mà nói: “Xin thương”, thì người Mẹ Tình Thương sẽ đón nhận nó như một kẻ bị thương.                                           386

26* Mẹ Maria phải hủy bỏ Evà                                   390

27* Gioan đi đón Mẹ                                               404

28* Từ tòa án tới Calvê                                            412

29* Đóng đinh vào thập giá                                     432

30*  Ngôi mộ của Giuse Arimathi. Sự lo lắng kinh khủng

của Maria. Việc xức thuốc thơm cho Chúa.                   470

31*  Trở về nhà Tiệc Ly                                           486

32*  Đêm Thứ Sáu Tuần Thánh                                503

33*  Lời than khóc của Đức Trinh Nữ                          511

34* Trong ngày Thứ Bảy Tuần Thánh                         535

35*  Đêm Thứ Bảy Tuần Thánh                                550

http://s.daminhvn.net/daminhvn/tulieubaiviet/hinhanh/chua-gie-su/GiesuCauNguyen.jpg

 

1* NHỮNG NHẬP ĐỀ KHÁC NHAU:

A- “NGƯỜI CON CỦA THIÊN CHÚA VÀ CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG TÌ Ố XUẤT HIỆN NHƯ MỘT CON SÂU”.

       Chúa Giêsu nói:

       Và bây giờ, hãy đến. Mặc dầu chiều nay con sẽ như một người gần tắt thở. Hãy đến để Cha dẫn con vào những nỗi thống khổ của Cha. Con đường chúng ta phải cùng đi thì thật dài, vì không một thứ đau thương nào mà Cha được thoát khỏi, dù là thể xác hay tinh thần, dù là con tim hay trí tuệ. Cha đã cảm nhận tất cả, Cha đã nuôi mình bằng tất cả, Cha đã giải khát bằng tất cả cho đến chết vì tất cả những thứ đau thương này.

       Nếu con đặt miệng con trên môi Cha, con sẽ cảm thấy nó hãy còn những vị chua cay của từng ấy đau thương. Nếu con có thể nhìn thấy con người nhân loại của Cha dưới những lớp y phục bây giờ rực sáng, con sẽ thấy rằng sự chói sáng này phát ra từ hàng ngàn và hàng ngàn vết thương phủ kín như một lớp vải điều sống động, những phần thân thể bị xé nát, bị chảy máu, dấu vết của những trận đòn, bị xuyên thâu vì tình yêu đối với các con.

       Bây giờ nhân tính của Cha rực sáng, nhưng đã có một ngày nhân tính này giống như thân xác một người cùi, vì bao đánh đập và hạ nhục. Người-Thiên-Chúa, đấng đã có trong chính Ngài một vẻ đẹp toàn vẹn về thể xác, đúng là người con của Thiên Chúa và của người đàn bà không tì ố, khi ấy xuất hiện dưới con mắt của những kẻ nhìn Người với tình yêu, với sự tò mò hay khinh bỉ, xấu xa như một con sâu, đúng như Đavít đã nói: là sự nhục nhã của loài người, là đồ bỏ của dân chúng.

       Tình yêu của Cha đối với Chúa Cha và với con cái của Người đã dẫn Cha đến việc giao phó thân thể Cha cho những kẻ đánh Cha, giơ mặt ra cho những kẻ bạt tai Cha, và cho họ bao phủ Cha bằng những đờm rãi, cho những kẻ tin rằng mình làm những kỳ công đáng thưởng trong việc giật tóc, giật râu Cha, và xuyên thủng đầu Cha bằng những gai nhọn, trong việc làm cho trái đất và những kẻ đồng lõa với nó làm những trận cuồng phong hành hình trên Vị Cứu Tinh của nó, làm trật khớp các chi thể, để lộ các xương ra, lôi giật quần áo, và như vậy, làm cho sự trong trắng của Cha những hành hình lớn nhất, trói Cha vào cột, treo Cha lên như một con chiên bị cắt cổ, bị treo vào cái móc của người đồ tể, gào thét chung quanh cơn hấp hối của Cha như một bầy chó đói mà mùi máu làm cho chúng càng thêm hung bạo.

       Bị buộc tội, bị kết án, bị giết, bị phản bội, bị từ chối, bị bán; bị ruồng bỏ bởi cả Thiên Chúa, chỉ vì tội lỗi mà Cha đã mang lấy trên thân Cha. Cha trở nên nghèo nàn hơn một người ăn mày bị lục lọi bởi quân cướp đường, bởi vì người ta đã không để lại cho Cha một mảnh áo để che đậy tấm thân tử đạo trần truồng tái mét. Cả đến sau cái chết, Cha cũng không thoát khỏi vết thương và những vu khống của kẻ thù. Cha bị chìm dưới đống bùn tội lỗi của các con; bị đẩy tới tận đáy sâu vực thẳm tối tăm của đau thương, không một tia sáng nào của trời cao trả lời cho cái nhìn hấp hối của Cha, không một lời nào của Thiên Chúa trả lời cho tiếng gọi sau cùng của Cha.

       Isaie đã nói cái lý do của từng ấy đau thương rằng: “Qủa thật Người đã nhận lấy trên thân Người mọi tội lỗi của chúng ta, và Người đã mang lấy đau thương của chúng ta”.

       “Đau thương của chúng ta!” Đúng, Cha đã mang lấy hết thay cho các con, để Cha nâng đỡ, thoa dịu, và tiêu hủy nỗi đau thương của các con nếu các con trung thành với Cha. Nhưng các con đã không muốn trung thành. Vậy Cha đã có gì? Các con đã nhìn Cha “như một người hủi, như một kẻ bị Thiên Chúa đánh phạt”. Phải, Cha đã mang trên Cha cái hủi của số tội lỗi vô vàn của các con, nó ở trên Cha như bộ áo thống hối ăn năn, như chiếc áo nhặm. Nhưng sao các con không thấy Thiên Chúa lộ ra trong đức ái vô hạn của Người dưới bộ áo mà vì các con, Người đã mang lấy trên sự thánh thiện của Người?

       “Bị thương tích vì sự bất công của chúng ta, bị đâm thâu vì tội ác của chúng ta”, Isaie đã nói. Bằng cái nhìn tiên tri của ông, ông đã thấy Con Người trở thành một vết thương bao la để cứu chữa những vết thương của nhân loại. Và đâu phải chỉ có các vết thương trên thân xác thôi sao!

       Nhưng điều các con làm Cha bị tổn thương nhiều nhất là tình cảm và trí tuệ. Từ tình cảm và từ trí tuệ, các con đã biến Cha thành đồ chơi và một cái đích nhắm. Các con đã đánh đập Cha trong tình bạn hữu Cha dành cho các con qua trung gian Judas, trong sự trung thành mà Cha trông đợi ở các con qua Phêrô là người đã chối Cha, trong sự biết ơn vì bao điều lành Cha đã làm, qua trung gian của những người đã kêu gào: “Nó đáng chết!” sau khi Cha đã chữa họ khỏi bao thứ bệnh tật; qua tình yêu và sự đau khổ xé lòng của Mẹ Cha, qua những người trong tôn giáo khi họ tuyên bố rằng Cha nói phạm thượng tới Thiên Chúa, Cha, chỉ vì lòng nhiệt thành với Thiên Chúa, Cha đã đặt mình trong tay loài người, trong việc nhập thể và chịu đau khổ suốt đời, và phó mình cho sự hung dữ của loài người, không thốt ra một lời, không một phàn nàn.

       Chỉ cần một cái nhìn, Cha có thể biến tất cả các kẻ buộc tội, các kẻ xét xử và các lý hình thành tro bụi, nhưng Cha đã tự ý tới để làm trọn Lễ Hy Sinh như một con chiên, vì Cha là  Con  Chiên Thiên Chúa, và muôn đời Cha là vậy. Cha đã để mình bị dẫn tới chỗ bị tước đoạt hết và tới cái chết, để làm cho thịt Cha thành Sự Sống cho các con.

       Khi Cha được dưỡng dục, Cha đã bị nung nấu bởi đủ thứ đau khổ không tên, hay với tất cả các thứ tên. Cha đã bắt đầu chết ở Bétlem khi Cha nhìn thấy ánh sáng của trái đất khác biệt một cách lo âu đối với Cha là Sống của Trời. Cha đã tiếp tục sống trong nghèo nàn, trốn tránh, lưu đày, trong công việc, trong sự không thông cảm, trong sự mệt mỏi, sự phản bội, trong những tình cảm mà người ta lấy mất của Cha; trong sự hành hạ, sự dối trá, sự phạm thượng. Đó là những cái con người dành cho Cha là kẻ đến để kết hợp họ với Thiên Chúa.

       Maria (Valtorta) ơi, hãy nhìn Vị Cứu Tinh  của  con.  Người  không còn áo trắng, không còn đầu tóc hoe vàng, không còn cái nhìn lam ngọc như con vẫn thấy Người. Y phục của Người đỏ những máu, rách nát và đầy dơ bẩn, đầy đờm rãi. Mặt mũi Người sưng phù, biến dạng, cái nhìn bị phủ mờ vì máu và nước mắt. Mắt Người nhìn con qua lớp màng bụi cát làm cho nặng mí mắt. Các bàn tay của Cha, con thấy không, nó đã là một vết thương rồi, trong khi chờ đợi vết  thương  sau  cùng.

       Hỡi Gioan nhỏ, hãy nhìn Cha giống như người anh Gioan của con đã nhìn. Các bước đi của Cha đã để lại sau Cha những vết máu. Mồ hôi pha loãng những máu chảy ra từ những chỗ nứt bởi roi đòn và những máu còn lại của cơn hấp hối trong vườn. Tiếng nói phát ra trong những hơi thở dốc lo âu của một trái tim đã chết vì bị đủ thứ hành hạ, từ cặp môi cháy nóng và bầm tím.

       Từ giờ trở đi, con sẽ thấy Cha thường như vậy. Cha là Vua của đau thương và Cha đến nói với con về những đau thương của Cha trong cẩm bào vương giả. Hãy theo Cha, dù con bị hấp hối. Cha biết, và Cha đầy tình thương. Trước cặp môi của con bị tẩm thuốc độc bởi những đau thương của Cha, có đặt mật ong thơm lành của sự chiêm ngắm thanh tịnh nhất. Nhưng con phải thích những chiêm ngắm đẫm máu hơn, bởi vì nhờ nó mà con có được sự sống, và với nó, con sẽ dẫn dắt những người khác tới Sự Sống. Hãy hạ bàn tay đẫm máu của Cha xuống, và hãy tỉnh thức chiêm ngắm nơi Cha, Đấng Cứu Thế.

       Con Thấy Chúa Giêsu như Người tự diễn tả. Chiều nay, từ 19 giờ, con thực sự ở trong cơn hấp hối.

       Sáng nay, 11 tháng 2, lúc 7g30, Chúa Giêsu nói với con:

Chiều hôm qua, Cha đã không muốn nói với con rằng Cha là mồi của đau thương, vì Cha đã bắt đầu diễn tả và cho con thấy những đau khổ của Cha. Chiều hôm qua là lời mở đầu, và con đã qúa mệt, cô bạn của Cha! Nhưng trước khi cơn hấp hối trở lại, Cha phải khiển trách nhẹ con:

        Sáng hôm qua con đã ích kỷ. Con đã nói với cha linh hướng: “Chúng ta hy vọng con có thể chịu đựng, bởi vì sự mệt mỏi của con là lớn nhất”. Không, sự mệt mỏi của ngài là lớn nhất, bởi vì ngài mệt mỏi mà không được thưởng cái phước nhìn thấy và chiếm hữu Giêsu như con, mặc dù nhân tính thánh thiện của ngài. Đừng bao giờ ích kỷ, dù trong những điều nhỏ mọn nhất. Một môn đệ, một Gioan nhỏ, phải rất khiêm nhường và bác ái, giống như Giêsu của mình.

       Bây giờ hãy ở lại với Cha. “Các bông hoa đã xuất hiện… thời gian xén tỉa đã tới…và người ta đã nghe tiếng chim cu gáy ngoài đồng…” Và đây là những bông hoa mọc lên trong vũng máu Đức Kitô của con. Đấng mà người ta đã cắt đi như một cành trong khi tỉa, chính là Đấng Cứu Thế. Tiếng chim cu gọi bạn tình đến dự tiệc cưới đau thương và thánh thiện, chính là tiếng Cha, đấng yêu con.

       Hãy đứng dậy và hãy đến, như bài đọc thánh lễ hôm nay nói. Hãy đến chiêm ngắm và chịu đựng. Đó là ơn Cha ban cho các kẻ ưu tiên của Cha.

 http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcR3lKbdXxf3RYX1MOWpCwBtW1AKa5vkGvgJCY--NppJoseNwHyb

by January 23, 2013 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta)
Bài thơ của Con Người – Thiên Chúa (Maria Valtorta – Quyển 1)

Bài thơ của Con Người – Thiên Chúa (Maria Valtorta – Quyển 1)

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/Grande-1852-lot-de-10-chretiens-magazine-maria-valtorta-octobre-20121.jpg


”Bài thơ của Con Người – Thiên Chúa”

hay ”Tin Mừng như đã được vén mở cho tôi”:
một tác phẩm độc nhất vô nhị

       ”Bài thơ của Con Người – Thiên Chúa” hay ”Tin Mừng như đã được vén mở cho tôi” của bà Maria Valtorta là một tuyệt tác độc nhất vô nhị trong nền văn chương của Kitô giáo. Tuy không được – hay đúng hơn chưa được – Giáo quyền công nhận là ”mạc khải”, nhưng từ năm 1966 không còn bị cấm đọc và phổ biến nữa.

       Các thị kiến không chỉ bao gồm toàn cuộc đời Chúa Cứu Thế, mà còn trình thuật quãng đời thơ ấu của Mẹ Maria. So sánh với các tác phẩm được mạc khải khác, tác phẩm của bà Maria Valtorta đầy đủ nhất và rất chính xác trong tương quan với bốn Phúc Âm. Các thị kiến đã được viết lại ngay lập tức và một cách trực tiếp sau khi được vén mở.

       Các trình thuật rất trung thực với Phúc Âm, và giúp người đọc hiểu bối cảnh các giáo huấn của Chúa Giêsu với rất nhiều chi tiết súc tích, sống động hấp dẫn. Đặc biệt tác phẩm bao gồm các hiểu biết sự kiện lịch sử, địa lý, trắc địa, địa chất, khoáng chất và phong cảnh chính xác về Thánh Địa, khiến cho các chuyên viên kinh thánh và các học giả phải kinh ngạc.

       Bạn không bị bắt buộc phải tin, vì đây không phải là tín lý. Nhưng cũng đừng bỏ lỡ một cơ hội đọc một tác phẩm hay, và đừng nản lòng vì mấy chục trang dẫn nhập khô khan. Hãy kiên nhẫn vượt thắng nó và hãy đọc tác phẩm với tâm trí rộng mở, không thành kiến, đơn sơ, chân thành, bạn sẽ nếm hưởng được tình yêu bao la của Thiên Chúa Ba Ngôi, sẽ yêu mến Chúa Giêsu, Mẹ Maria, Cha Thánh Giuse nhiều hơn và xót thương nhân loại sâu xa hơn. Và cuộc sống của bạn sẽ được biến đổi.

       Roma 15-8-2012
Lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời
Linh mục Giuse Hoàng minh Thắng
Giáo sư Thánh kinh Đại học Giáo hoàng Urbaniana Roma (1991-2011)

Bấm vào đây để download nguyên bài: Bai tho Con Nguoi Thien Chua Quyen 1

http://i646.photobucket.com/albums/uu185/vanhoai1111/th_706423obhm2yl2at.gif

GHI CHÚ: Để dễ đọc cả quyển sách, xin bấm vào biểu tượng https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/mui-ten.png phía trên bên phải trong file PDF .

[viewpdf width=”591px” height=”795px”]tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/BÀI-THƠ-CỦA-CON-NGƯỜI-THIÊN-CHÚA-Quyển-1.pdf[/viewpdf]

by December 11, 2012 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta), Tâm Linh
Dụ ngôn Mười Điều Răn

Dụ ngôn Mười Điều Răn

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/11/10-dieu-ran.jpg

DỤ NGÔN MƯỜI ĐIỀU RĂN

          Để làm cho các con hiểu rõ mười điều răn là gì và việc tuân giữ nó quan trọng chừng nào, Thầy nói cho các con dụ ngôn này:

          Một người cha của một gia đình kia có hai người con trai, ông yêu hai người như nhau, và ông muốn trở nên ân nhân của hai người theo cùng một cách. Người cha này, ngoài nơi mà ông ở với các con ông, ông còn là chủ những sở hữu khác, nơi ông dấu những kho tàng lớn lao. Hai người con biết là có kho tàng này, nhưng họ không biết con đường nào để tới đó. Qủa vậy, vì những lý do đặc biệt, người cha không tiết lộ với các con ông con đường để tới đó, và như vậy đã từ nhiều năm rồi. Nhưng vào một lúc kia, ông gọi hai con trai lại và nói với họ: “Bây giờ đã đến lúc thuận tiện để các con biết kho tàng mà cha các con để dành cho các con nó ở đâu, để các con tới đó khi cha bảo các con. Trong khi chờ đợi, các con hãy nghe cho biết con đường và các dấu hiệu mà cha đã đặt ở đó, để các con không bị lạc mất con đường trúng. Vậy hãy nghe cha đây: Các kho tàng không ở trong đồng bằng, nơi nước đọng, nơi đại nhiệt thiêu đốt, nơi bụi bặm làm hư tất cả, nơi gai góc và các cây mâm xôi làm ngộp rau cỏ thảo mộc, và là nơi kẻ trộm có thể tới ăn cắp cách dễ dàng. Các kho tàng ở trên đỉnh ngọn núi cao kia, cao và gập ghềnh. Cha đã để nó ở đó, tận trên đỉnh, và chúng đang chờ các con. Ngọn núi có nhiều lối đi, cả đến có rất nhiều, nhưng chỉ có một đường là tốt. Các đường khác, một số thì tận cùng ở một vực thẳm, số khác thì dẫn vào một cái hang không có lối ra, số khác nữa thì tới những hố sâu nước bùn, số thì tới các hang rắn độc, số thì tới miệng núi lửa đầy lưu huỳnh cháy nóng, số thì tới những thành lũy không thể vượt qua được. Trái lại, con đường trúng thì mệt nhọc, nhưng dẫn tới đỉnh, không bị gián đoạn bởi các vực thẳm hay các chướng ngại khác. Để các con có thể nhận ra nó, cha đã để suốt dọc đường, tại những khoảng cách đều nhau, mười cái bia đá trên đó có khắc các chữ này: ‘Tình yêu, Vâng phục, Chiến thắng’, để hướng dẫn các con. Hãy đi theo đường đó và các con sẽ tới chỗ kho tàng. Rồi cha, bởi một con đường khác mà chỉ một mình cha biết, cha sẽ đến để mở các cửa cho các con để các con được sung sướng”.

          Hai người con chào cha. Ông nhắc lại bao lâu hai con trai ông còn nghe thấy: “Hãy theo con đường mà cha chỉ cho các con, vì sự lành của các con. Đừng để mình bị lôi kéo bởi các con đường khác, dù nó có vẻ như tốt hơn. Các con sẽ mất kho tàng và mất cha cùng với nó…”

          Đây, họ ở chân núi. Một bia đá đầu tiên được dựng ở dưới thấp, đúng vào chỗ bắt đầu con đường, ở giữa một loạt những con đường để lên núi theo đủ mọi hướng. Hai anh em bắt đầu leo lên trên con đường tốt. Nó vẫn còn rất tốt lúc bắt đầu, mặc dầu không một chút bóng mát. Từ trên trời, mặt trời chiếu thẳng xuống và dìm ngập nó trong ánh sáng và sức nóng. Đá có mầu trắng ở nơi nó được đục vào. Bầu trời trong ở bên trên đầu họ. Sức nóng của bầu trời bao phủ các chi thể họ. Đó là những điều hai anh em nhìn thấy và cảm thấy. Nhưng vẫn còn được kích thích bởi thiện chí, bởi các kỷ niệm về người cha và về các lời dặn dò của ông, hai người vui vẻ đi lên phía đỉnh. Đây, cái bia đá thứ hai… rồi cái thứ ba. Con đường càng lúc càng mệt, đơn độc, cháy nóng. Họ cũng không nhìn thấy các con đường khác là những đường có cỏ, có cây, có nước trong, nhất là nó ít dốc, vì nó thoai thoải từ từ, và được làm trên nền đất không có đá.

          -Cha chúng ta muốn cho chúng ta đi tới chỗ chết! – một người con nói khi tới cái bia đá thứ bốn, và anh ta bắt đầu bước chậm lại. Người con kia khuyến khích anh ta tiếp tục cuộc hành trình bằng cách nói: “Người yêu chúng ta như các thứ ngã của người và còn hơn nữa, vì người đã bảo toàn cho chúng ta một kho báu tuyệt vời như vầy. Con đường ở trong đá, không có quẹo ngang, đi thẳng từ dưới lên tới đỉnh, là chính ông đã đẽo. Những bia đá này, chính ông đã làm để hướng dẫn chúng ta. Anh ơi, hãy suy nghĩ: chính ông, một mình ông đã làm tất cả những điều này vì tình yêu, để tặng cho chúng ta, để làm cho chúng ta tới nơi không thể sai lầm và không nguy hiểm”.

          Họ lại đi. Nhưng các con đường đã bị loại bỏ ở phía dưới tiến lại gần con đường đục vào đá, và chúng càng hay lại gần hơn khi con đường dẫn tới đỉnh núi trở nên hẹp hơn. Và ôi, chúng đẹp đẽ, mát mẻ, có vẻ mời mọc chừng nào!…

          -Tôi rất muốn đi một trong các con đường kia. Có bao nhiêu con đường khác với con đường này để lên đỉnh núi – người anh trai không hài lòng nói khi tới bia đá thứ sáu.

          -Anh không thể nói vậy… Anh đâu có nhìn thấy là nó lên hay xuống.

          -Kia kìa, nó ở trên đó mà!

          -Anh dâu có chắc chỗ đó có phải là con đường này không. Hơn nữa, cha đã bảo là đừng bỏ con đường đúng.

          -Kẻ uể oải tiếp tục một cách miễn cưỡng. Đây, bia đá thứ bảy.

          Ôi! Với tôi, tôi bỏ đi thực sự đây!

          -Anh ơi, đừng làm vậy!

          Họ đi lên. Từ đây con đường thực sự rất khó. Nhưng đỉnh núi đã gần rồi…

           Đây, bia đá thứ tám, và một con đường đầy hoa chạy quanh ngay bên cạnh nó.

          -Ôi! Em thấy không? Con đường đó có lẽ không phải là con đường thẳng, nhưng rõ ràng là nó đi lên.

          Anh đâu biết đây có phải con đường đó không.

          -Có chứ! Anh nhận ra nó mà!

          Anh lầm đó.

          -Không, anh đi đây.

          -Đừng làm vậy. Hãy nghĩ tới Cha, tới các nguy hiểm, tới kho tàng.

          -Nhưng cầu cho chúng tiêu ma hết đi! Kho tàng mà làm gì nếu anh chết khi lên tới đỉnh? Đâu có nguy hiểm nào lớn hơn con đường này? Và đâu có sự thù ghét nào lớn hơn sự thù ghét của người cha đã chế diễu chúng ta bằng con đường này để làm cho chúng ta chết? Chào! Anh sẽ tới nơi trước em mà vẫn còn sống… – Và anh ta nhảy vào con đường kế bên, rồi biến mất trong lúc phát ra những tiếng kêu vui mừng sau các cây cho bóng mát.

          -Người em tiếp tục cách buồn rầu… Ôi! Con đường ở đoạn cuối thực là dễ sợ! Người bộ hành hầu không kham nổi nữa. Anh ta tựa như người say vì mệt mỏi, vì mặt trời! Tại bia đá thứ chín, anh ta đứng lại, thở hổn hển, tựa vào bia đá, đọc một cách máy móc các chữ được khắc ở trên. Rất gần đó có một con đường với bóng mát, nước và hoa đẹp… “Tôi sẽ đi vào đường đó chăng?… Nhưng không!   Không. Ở đây đã viết, và chính cha tôi đã viết: ‘Tình yêu, Vâng lời, Chiến thắng’.   Tôi phải tin vào tình yêu của Người, vào sự thật của Người, và tôi phải vâng lời để chứng tỏ tình yêu của tôi… Nào!… Cầu cho tình yêu nâng đỡ tôi…” Đây, bia đá thứ mười… Người bộ hành kiệt quệ, bị cháy bởi mặt trời, gù xuống để bước như ở dưới một cái ách… Đó là cái ách yêu thương và thánh thiện của sự trung thành, là tình yêu, sự vâng lời, mạnh mẽ, cậy trông, chính trực, khôn ngoan, tất cả… Thay vì dựa vào bia đá, anh ta ngồi bệt bên một chút bóng mát của tảng đá dựng trên mặt đất.   Anh cảm thấy như hầu chết. Từ con đường bên cạnh bay tới tiếng động của dòng suối và mùi cây rừng… “Cha ơi! Cha ơi! Hãy giúp con trong cơn cám dỗ này bằng thần trí của cha… Hãy giúp con trung thành tới cùng!”

          Từ xa, giọng nói vui vẻ của người anh: “Tới đây đi, anh chờ em. Ở đây là Thiên Đàng… Tới đi…”

          -Nếu em tới đó?… – Và anh ta kêu rất lớn: “Có đúng là người ta lên đỉnh được không?”

          -Đúng mà. Tới đi. Có một cái hành lang mát mẻ dẫn lên đó. Tới đi! Anh đã nhìn thấy đỉnh núi ở bên kia hành lang, ở trong đá.

          -Tôi tới? Tôi không tới?… Ai đến cứu tôi?… Tôi tới… – Anh chống tay để đứng dậy, và khi làm như vậy, anh quan sát thấy rằng các chữ được khắc không còn rõ nét như ở các bia đá đầu tiên: “Ở mỗi bia đá, các nét chữ trở nên mờ hơn…   Tựa như cha tôi mệt mỏi, phải khó khăn để khắc… Và… Coi này!… Ở đây cũng vậy, có cái dấu mầu nâu đỏ này, tôi bắt đầu nhìn thấy rõ từ bia đá thứ năm…   Nhưng ở đây nó làm đầy trong các khe của các chữ, và nó chảy xuống, để lại vết trên đá như dòng nước mắt đậm, giống như… máu…” Và với ngón tay, anh ta cào vào chỗ có một vết lớn như hai bàn tay. Và cái vết biến đi, để lộ ra những lời này, rõ như mới viết: “Cha yêu các con như vậy đó, cho tới đổ máu ra để dẫn các con tới kho tàng”.

          -Ôi! Ôi! Cha tôi! Và tôi, tôi đã có thể nghĩ tới không tuân theo mệnh lệnh của Cha sao? Xin tha, cha của con ơi, xin tha! – Người con gục vào bia đá để khóc, và lằn máu ở đầy trong các khe chữ tự mới lại, tươi bóng như hồng ngọc, và nước mắt trở thành đồ ăn đồ uống cho người con tốt, và sức mạnh… Anh đứng dậy… Vì tình yêu, anh gọi người anh rất mạnh, rất mạnh… Anh ta muốn kể điều khám phá của anh cho ông anh… tình yêu của cha, để nói với anh: “Hãy trở lại”. Nhưng không ai trả lời cả.

          Người thanh niên lại lên đường, hầu như lết bằng đầu gối trên đá nóng. Vì kiệt sức, thân xác anh thực sự tới mức, nhưng tâm hồn anh trong sáng. Đây, đỉnh núi… Và kìa, Cha!

          -Cha của con!

          -Con cưng!

          Người thanh niên lao mình vào lòng thân phụ. Người cha đón nhận anh và bao phủ anh bằng những cái hôn.

          -Con có một mình?

          -Vâng… Nhưng anh con sắp tới…

          -Không. Anh ấy không tới nữa. Anh đã bỏ con đường của mười bia đá. Anh đã không trở lại sau những tỉnh ngộ đầu tiên đã loan báo cho anh. Con muốn nhìn thấy anh không? Anh kia kìa, trong hố lửa… Anh cứng đầu trong tội. Cha sẽ còn tha thứ và còn chờ anh nếu sau khi nhận ra lỗi lầm, anh biết quay trở lại, và nếu dù có chậm trễ, anh ta cũng đi qua nơi mà tình yêu đã đi qua trước, trong khi chịu đựng tới nỗi đổ ra cho các con những thứ tốt nhất của máu người, cái đắt gía nhất ở nơi Người.

          -Anh đã không biết.

          -Nếu anh con đã nhìn với tình yêu những lời được khắc trên mười bia đá, thì anh đã đọc được ý nghĩa thực sự của nó. Con đã đọc được từ bia đá thứ năm, và con đã lưu ý anh ta khi nói: “Chỗ này chắc cha bị thương!” Và con đã đọc được nó ở bia đá thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, thứ chín… luôn luôn rõ hơn, cho tới lúc con có cái trực giác muốn khám phá điều gì ở dưới lớp máu của cha. Con biết tên của cái trực giác này không? Sự kết hợp thực sự của con với cha. Các thớ thịt của qủa tim con hòa lẫn với các thớ thịt của qủa tim cha đã nhảy mừng và nói với con: “Ở đây mày sẽ có sự đo lường về cách thế người cha yêu mày”. Bây giờ con, kẻ có Tình Yêu, Vâng Lời, Chiến Thắng, hãy vào chiếm lấy kho báu và chính Cha tới muôn đời.

          Đó là dụ ngôn.

          Mười bia đá là mười giới răn. Thiên Chúa của các con đã khắc nó và đặt nó trên con đường dẫn tới kho báu đời đời, và Người đã khổ cực để dẫn các con vào con đường này. Các con đau khổ ư ? Thiên Chúa cũng vậy. Các con phải gắng sức với chính mình ư ? Thiên Chúa cũng vậy, và các con biết tới điểm nào không? Tới mức chịu đựng sự chia lìa chính mình Người và tự cố gắng để biết thực thể của loài người với tất cả những khốn nạn mà nhân tính mang theo với nó: sinh ra, chịu giá lạnh, đói khát, mệt nhọc và những chua cay, những xúc phạm, những thù ghét, những cạm bẫy, và sau cùng là cái chết bằng cách đổ hết máu Thầy ra để cho các con kho báu. Đó là điều Thiên Chúa chịu đựng khi xuống trần để cứu các con. Đó là điều Thiên Chúa trên Trời chịu đựng khi tự cho phép mình chịu đau khổ như vầy.

          Thực vậy, Thầy bảo các con rằng không một người nào, dù con đường về trời của họ lao nhọc tới đâu, có thể là con đường lao khổ hơn, đau thương hơn con đường mà Con Người đi từ Trời xuống đất, từ đất tới Lễ Hy Sinh, để mở các cửa của kho báu cho các con.

          Máu Thầy đã ở trong các bản của Lề Luật. Máu Thầy đã ở trên con đường mà Thầy vạch ra cho các con. Chính dưới làn sóng của máu Thầy mà cửa của các kho tàng mở ra. Chính bởi máu Thầy mà tâm hồn các con được tẩy rửa, được nuôi dưỡng, và được trở nên trong sạch và mạnh mẽ. Nhưng để cho nó không đổ ra cách vô ích, thì các con phải theo Lề Luật bất di bất dịch của mười giới răn.

          (Quyển 6, đoạn 144)

 “Bài thơ của Con Người-Thiên Chúa”

Viết bởi Maria Valtorta

Chuyển ngữ: Nữ tu Phạm thị Hùng CMR

 

by November 29, 2012 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta)
Bài học tuyệt vời qua việc Sơn gỗ

Bài học tuyệt vời qua việc Sơn gỗ

 https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/11/son-go.jpg

           Cái lò lửa thô kệch của xưởng mộc được đốt lên sau một thời gian dài không dùng tới. Mùi chất keo sôi trong bát hòa lẫn với mùi đặc biệt của mạt cưa và dăm bào mới còn rơi ở chân bàn.

          Giêsu làm việc với cái cưa và cái bào. Người đang biến các mảnh gỗ thành các chân ghế hay ngăn kéo hoặc các vật dụng khác.

          Các đồ gỗ tầm thường của căn nhà nhỏ Nazarét đã được mang tới xưởng mộc: cái thùng nhồi bột cần sửa, một trong các khung cửi của Maria, hai cái ghế đẩu, một cái thang dùng ngoài vườn, một cái rương nhỏ, một cái cửa lò, tôi đoán vậy, bị gặm ở phía dưới, có lẽ bởi chuột.

          Giêsu làm việc để sửa những cái đã hư vì sử dụng hay vì thời gian.

          Tôma thì với tất cả dụng cụ nhỏ của nghề thợ bạc, chắc ông đã lấy ở giỏ của ông ra, cái giỏ mà ông để trên giường kê ở sát tường, cũng như giường của Zêlote. Ông làm việc với bàn tay nhẹ nhàng trên những lá bạc. Những lát của cái búa nhỏ mà ông đập trên cái đục, tạo ra những tiếng bạc tan biến mất trong tiếng động mạnh hơn của những dụng cụ làm việc mà Giêsu sử dụng.

          Thỉnh thoảng họ trao đổi vài lời. Tôma rất sung sướng được ở đó với Thầy và làm nghề thợ bạc của ông – qủa vậy, ông đã nói điều đó – Khi nghỉ đàm thoại, ông huýt sáo nho nhỏ. Thỉnh thoảng ông ngước mắt lên và suy nghĩ. Với vẻ trầm tư, ông nhìn đăm đăm vào bức tường ám khói của căn nhà.

          Giêsu quan sát ông và nói: “Tôma, con tìm hứng ở trên các bức tường đen này à? Đúng thực, cái đã làm cho nó có bộ mặt này là công việc lâu dài của một vị công chính. Nhưng Thầy không thấy rằng điều đó có thể cho người thợ kim hoàn một đề tài…”

          – Thưa Thầy, không. Thực sự, với các kim qúi, người thợ kim hoàn không thể làm cho sự nghèo khó thánh thiện trở nên thi vị…

          Nhưng với các kim loại, họ có thể bắt chước những thứ đẹp đẽ của thiên nhiên, làm cho vàng bạc trở thành cao qúi bằng cách dùng nó để làm ra các hoa lá có trong các thụ tạo. Con, con nghĩ tới những bông hoa, những chiếc lá này, và để nhớ lại hình dáng của nó, con ngồi bất động như vậy, mắt cắm vào các bức tường. Nhưng trong thực tế, điều con nhìn thấy là các khóm cây, các đồng cỏ của quê hương chúng ta, những cái lá nhẹ nhàng, những bông hoa giống như chiếc cúp hay các ngôi sao, hình dáng của các cộng và các lá…

          – Vậy con là thi sĩ, một thi sĩ hát với kim loại, những điều mà các nhà văn hát với tấm giấy da.

          – Đúng. Qủa vậy, thợ kim hoàn là một thi sĩ viết trên kim loại những vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhưng công việc của chúng con, tuy  đẹp và nghệ thuật, nhưng không có giá trị như công việc khiêm tốn và thánh thiện của Thầy. Vì việc của chúng con phục vụ cho sự phù vân của người giầu, còn việc của Thầy phục vụ cho sự thánh thiện, cho nhà cửa, cho nhu cầu của người nghèo.

          – Tôma, anh nói rất hay – Simon Zêlote (Phêrô) nói khi xuất hiện trước cửa ăn thông ra vườn, trong bộ đồ ngắn, tay áo xắn cao, ở đàng trước có đeo một tấm tạp dề cũ, tay mang một hộp sơn.

          Giêsu và Tôma quay lại nhìn ông và mỉm cười. Tôma trả lời: “Đúng, tôi nói hay. Nhưng tôi muốn rằng có lần công việc của thợ bạc sẽ dùng để trang hoàng một… một cái gì tốt và thánh…”

          – Cái gì?

          – Một bí mật. Tôi nghĩ tới nó lâu rồi, từ hồi chúng ta ở Rama, và tôi đem theo mình những dụng cụ thợ bạc nhỏ của tôi và tôi chờ đợi cái giờ này… Còn công việc của anh, Simon?

          – Ôi! Tôi, tôi không phải là nghệ sĩ có tài như anh. Tôma ơi, đây là lần đầu tiên tôi cầm một cái cọ trong tay, và cái vật tôi sơn không được đẹp, mặc dầu tôi để hết thiện chí vào đó. Tôi cũng đã bắt đầu bằng những chỗ khiêm tốn nhất… để cho quen tay… và tôi bảo đảm với anh là sự vụng về của tôi sẽ làm con bé cười thoải mái. Tôi rất bằng lòng vì giờ qua giờ, nó đã sinh lại trong một đời sống trong sáng, và phải như vậy để xóa bỏ đi cái qúa khứ và làm lại nó hoàn toàn mới cho Thầy, Thầy nhỉ.

          – Nhưng có lẽ Valêria không chịu nhường – Tôma nói.

          – Ôi! Nhưng anh muốn sao? Việc có nó hay không có nó có gì quan trọng đối với bà. Bà ta giữ nó là để nó không lạc lõng trong thế giới. Và chắc chắn sẽ rất tốt là con bé được cứu vĩnh viễn, và trong tất cả, nhất là về tâm hồn, phải không Thầy?

          – Đúng vậy. Phải cầu nguyện rất nhiều cho việc này. Tạo vật này đơn sơ và thực sự tốt. Nếu được nuôi dưỡng trong chân lý, nó có thể cho rất nhiều. Nó nghiêng chiều theo bản năng tự nhiên về với Ánh Sáng.

          – Chắc chắn rồi. Nó chả có sự an ủi nào ở dưới đất… và nó tìm ở trên Trời. Tội nghiệp! Con, con tin rằng khi Tin Mừng của Thầy được rao giảng cho khắp thế giới, thì những kẻ đầu tiên đón nhận nó, và là số đông đảo nhất, sẽ là các nô lệ, những kẻ không có một an ủi loài người nào, họ sẽ dựa vào lời hứa của Thầy để tìm thấy…

          Và con nói, nếu chính con được cái vinh dự loan báo nó, con sẽ có tình yêu đặc biệt đối với những kẻ khốn nạn này…

          – Và con sẽ làm rất tốt, Tôma ạ – Giêsu nói.

          – Đúng. Nhưng anh làm sao để tới gần họ?

          – Ồ, Tôi sẽ làm thợ bạc cho các bà và… là thầy của các nô lệ của họ. Một thợ bạc có thể vào trong nhà một người giầu, hoặc các đầy tớ của họ tới nhà ông ta… và tôi sẽ làm việc… Hai kim loại: Kim loại dưới đất cho người giầu, kim loại tâm hồn cho các nô lệ.

          – Nguyện Thiên Chúa chúc lành cho chương trình của con, Tôma. Hãy kiên trì trong ý hướng này.

          – Thưa Thầy vâng.

          – Tốt. Thầy đã trả lời cho Tôma rồi, xin Thầy đi với con… để coi  công việc của con, và để bảo con cái con phải sơn bây giờ. Những cái tầm thường đã, vì con là đứa rất ít khả năng.

          – Chúng ta đi, Simon – và Người bỏ các dụng cụ lại để ra ngoài với Zêlote. Một lúc sau, họ trở lại, Giêsu chỉ cho ông chiếc cầu thang trong vườn: “Hãy sơn cái này. Sơn làm cho gỗ không thấm nước và bảo trì nó lâu hơn, lại nữa, nó làm cho đẹp hơn. Cũng giống như nhân đức bảo trì và tô điểm tâm hồn con người. Tâm hồn có thể thô kệch… nhưng khi được phủ bằng nhân đức, nó trở nên đẹp, dễ coi. Con thấy, muốn sơn cho đẹp và có hiệu qủa thực sự thì phải cẩn thận biết bao. Để bắt đầu, phải ý tứ lấy những gì cần để tạo thành nó. Phải biết cái đồ đựng không còn dính đất hay sơn cũ; phải có dầu tốt và chất mầu tốt, và quậy đều chúng cách kiên nhẫn, làm cho nó thành một hợp chất không qúa đặc, không qúa lỏng.

          Không được chán nản làm cho tới khi hòa tan hết những cục nhỏ bé nhất. Điều đó xong rồi thì phải lấy một cái cọ. Cái cọ phải không rụng lông. Nó phải không cứng qúa, không mềm qúa, phải sạch sẽ mọi chất mầu cũ. Trước khi sơn, phải cọ gỗ cho khỏi những chỗ sù sì, những vảy sơn cũ, bùn đất, tất cả. Rồi với bàn tay vững vàng một cách thứ tự, luôn luôn theo cùng một hướng, trét sơn ra một cách kiên nhẫn, với rất nhiều kiên nhẫn. Thực vậy, trên cùng một tấm gỗ, có nhiều loại phản ứng khác nhau. Ví dụ chỗ mắt gỗ thì sơn sẽ bóng hơn, nhưng sơn không dính tốt ở đó, vì gỗ ở chỗ mắt đẩy sơn ra. Trái lại, trên các chỗ gỗ mềm thì sơn dính ngay, nhưng thường ít bóng, và vì vậy có thể tạo ra những vết phồng hay những khe nhỏ… Vậy người ta phải sửa lại bằng cách sử dụng bàn tay một cách cẩn thận để trét sơn. Rồi trong những đồ gỗ cũ thì có những phần mới giống như cái bậc này, ví dụ vậy. Để cho người ta không nhìn thấy cái cầu thang tội nghiệp bị chắp vá, nhưng chỉ rất cũ, thì phải làm sao cho cái bậc mới cũng giống như các bậc cũ. Đó, vậy đó”.

          Giêsu cúi trên chân cầu thang, vừa sơn vừa nói những lời đó… Tôma đã bỏ cái đục của ông xuống để lại gần coi. Ông hỏi: “Tại sao Thầy lại bắt đầu sơn bậc dưới thay vì bậc trên? Làm ngược lại không hay hơn sao?”

          – Điều đó có vẻ thuận lợi hơn, nhưng lại không vậy. Vì thực sự bậc dưới hư nhiều hơn, và bị hư vì nằm trên đất, vậy phải sơn nhiều lần: nước thứ nhất, rồi nước thứ hai và nước thứ ba nếu cần… Và để không phải ở không thì trong khi chờ bậc dưới khô, vì nó còn phải sơn một nước nữa, ta sẽ sơn phần đầu, rồi phần giữa cầu thang.

          – Nhưng làm như vậy có thể bị dính quần áo vào và làm hư các phần đã sơn.

          – Làm một cách khéo léo thì ta không làm dính, cũng không làm hư cái gì cả. Con thấy không? Ta làm như vầy này: Ta vơ gọn quần áo lại và đứng hơi xa ra, không phải vì ghê tởm cái sơn, mà là để không làm hư sơn là thứ tế nhị, bởi vì mới sơn – và bây giờ Giêsu giơ cao tay để sơn đầu cầu thang.

          Người tiếp tục nói: “Người ta cũng hành động như vậy với các tâm hồn. Thầy đã nói lúc đầu rằng sơn cũng giống như các nhân đức làm đẹp cho tâm hồn con người. Nó làm đẹp và bảo trì gỗ khỏi mọt, khỏi mưa nắng. Khốn cho ông chủ nhà nào không săn sóc các đồ được sơn và để nó hư hại! Khi nhìn thấy đồ gỗ đã bong sơn thì không được mất thời giờ, phải làm mới lại nước sơn… Các nhân đức cũng vậy: một cái đà hướng về sự công chính có thể hư hại hay biến mất hoàn toàn, nếu chủ nhà không canh chừng. Thể xác và tâm hồn bị trần trụi, phơi bày ra ngoài mưa gió và các ký sinh vật, tức là các đam mê và phóng đãng, có thể bị tấn công và mất lớp che chở làm cho nó đẹp, sau cùng sẽ chỉ còn tốt cho lò lửa…

          Dù là ở nơi chúng ta hay nơi những người chúng ta yêu, như các môn đệ của chúng ta chẳng hạn. Khi thấy họ thoái hóa, lơ là với các nhân đức giúp chúng ta chống lại cái tôi của chúng ta, thì phải lập tức gò cương lại bằng một công việc cần cù, nhẫn nại tới cùng của cuộc đời, để có thể yên nghỉ trong cái chết với một thân xác và một tâm hồn xứng đáng với sự phục sinh vinh hiển.

          Để cho các nhân đức là thực sự và tốt lành, phải bắt đầu bằng một ý hướng trong sạch, can đảm, dẹp bỏ mọi vấn rác, mọi nhơ uế và áp dụng nhân đức, không để sự bất toàn trong việc đào tạo nhân đức. Rồi sau đó giữ thái độ không qúa khắt khe, không qúa dễ dãi, vì sự khăng khăng và sự dễ dãi qúa mức đều có hại. Và cái cọ là ý chí, nó phải sạch sẽ mọi hướng chiều về con người khi trước, có thể làm ra những vết lằn trong lớp sơn siêu nhiên bởi những đường khứa của vật chất, và sửa soạn cho chính mình hay cho các người khác những thực hành kịp thời, tuy mệt mỏi nhưng cần thiết để thanh lọc cái tôi cũ cho khỏi mọi bệnh phong cùi cũ, để nó được trong sạch mà đón nhận các nhân đức. Qủa vậy, người ta không thể pha trộn sơn cũ với sơn mới.

          Rồi bắt đầu công việc một cách thứ tự, với suy xét chín chắn.

          Không nhảy từ chỗ nọ qua chỗ kia mà không có lý do chính đáng.

          Đừng làm một tí theo chiều nọ rồi một tí theo chiều kia. Thực sự người ta có thể bớt mệt một tí, nhưng nước sơn không đều. Đó là điều xảy ra nơi những tâm hồn vô trật tự. Họ bày ra những chỗ hoàn hảo, nhưng ở bên cạnh thì đây, những chỗ biến dạng, những mầu khác nhau… Những chỗ ăn sơn không đều, những chỗ mắt gỗ là những khuyết điểm về chất liệu: những đam mê đồi trụy, có được kìm hãm bởi ý chí, nhưng giống như cái bào khó lòng làm cho nó mướt trơn, nó tồn tại để chống cự, giống như cái mắt gỗ bị cắt ngang nhưng không bị phá hủy. Đôi khi nó lừa dối, vì nó có vẻ như được phủ bằng nhân đức, mà thật ra chỉ có một lớp sơn mỏng, sẽ rơi đi mau lẹ. Hãy chú ý tới những cái mắt của dâm đãng. Hãy làm sao cho nó được phủ kín bằng nhiều lớp của các nhân đức, để nó đừng chui ra và làm hư hỏng cái tôi mới. Và trên các phần mềm, những phần dính sơn dễ dàng, nhưng thất thường với những chỗ phồng và những khe, hãy dùng nhiều giấy nhám để mài nhẵn, mài nhẵn, mài nhẵn, rồi sơn một hay nhiều lớp sơn, để những chỗ này cũng nhẵn bóng như men cứng. Và cẩn thận, đừng thái qúa. Một sự hăng say thái qúa về nhân đức cũng có thể làm cho tạo vật phản loạn, sôi sục lên, tróc sơn khi vừa bị va chạm lần thứ nhất. Không, đừng qúa, đừng quắt. Một mức độ vừa phải của công việc trên bản thân và  trên mọi vật, phải được làm với thể xác và tâm hồn.

          Trong phần đông các trường hợp – vì Auréa là trường hợp đặc biệt ngoại lệ – có những phần mới lẫn lộn với các phần cũ, giống như nơi các người Israel chuyển từ Môise qua Đức Kitô, và cũng như dân ngoại với niềm tin cố cựu của họ, không thể đùng một phát có thể làm biến mất, nó sẽ khơi dậy những nuối tiếc và các kỷ niệm, ít nhất là trong những điều trong sạch nhất. Khi đó lại phải lưu ý hơn và khéo léo kiên trì, để những cái cũ tan đều hòa hợp với những cái mới, bằng cách dùng những thứ cũ đã có sẵn để hoàn tất các nhân đức mới. Như vậy, nơi các người Rôma thì lòng yêu quê hương và sự can đảm cương quyết là những yếu tố quan trọng, hai điều này có thể nói là cuồng tín. Vậy không được phá hủy nó, nhưng phải ghi khắc cho lòng ái quốc một tinh thần mới, tức là ý hướng làm cho Rôma một sự vĩ đại siêu nhiên, bằng cách làm cho nó thành trung tâm của Kitô giáo. Các con hãy sử dụng sự cương quyết trưởng thành của người Rôma, những người can đảm trong chiến đấu, để làm cho họ can đảm trong đức tin. Một ví dụ khác: Auréa.

          Sự ghê tởm của một khám phá độc ác đã đẩy nó tới chỗ yêu thích những gì trong sạch và ghét những cái dơ bẩn. Vậy hãy lợi dụng hai tình cảm này để dẫn nó tới một sự trong sạch toàn vẹn và ghét sự dâm đãng tựa như nó là tên Rôma độc ác.

          Các con hiểu Thầy không? Hãy lợi dụng các phong tục làm phương tiện để xâm nhập vào. Đừng phá hủy nó cách tàn bạo. Các con sẽ không có ngay đủ các thứ cần để tái thiết. Nhưng hãy rất từ từ thay thế những cái không thể để lại trong kẻ hoán cải, với tình bác ái, nhẫn nại bền bỉ. Và bởi vì vật chất ngự trị, nhất là nơi dân ngoại, dù đã trở lại, và nó luôn luôn tồn tại vì những giao tiếp với môi trường mà họ phải sống, các con hãy nhấn mạnh rất nhiều về sự mau qua của các thú vui giác quan. Chính bởi giác quan mà các thứ khác xâm nhập. Các con hãy canh chừng những cảm giác qúa mức nơi dân ngoại, và chúng ta cũng phải thú rằng nó cũng rất mạnh nơi chúng ta. Khi các con thấy rằng những giao tiếp với thế giới làm hư hỏng lớp sơn bảo vệ thì đừng tiếp tục sơn chỗ trên cao nữa, nhưng hãy trở lại chỗ thấp để giữ cho quân bình giữa thể xác và tinh thần, giữa chỗ cao và chỗ thấp.  Nhưng phải luôn luôn bắt đầu bằng thân xác, bằng các tật xấu về vật chất, để sửa soạn đón tiếp Vị Khách không chịu ở trong những thể xác ô uế cũng như những tâm hồn xông ra mùi hôi thối của dâm ô xác thịt … Các con hiểu Thầy không?

          Đừng sợ bị nhơ khi y phục của các con đụng vào những phần hạ cấp, vật chất, của những kẻ mà các con săn sóc tâm hồn. Hãy cẩn thận để đừng làm hư hại thay vì xây dựng. Hãy sống trong cái tôi được nuôi dưỡng bằng Thiên Chúa, được bao bọc bằng các nhân đức của các con. Hãy đến với họ cách tế nhị, nhất là khi các con phải săn sóc cái tôi siêu nhiên rất nhậy cảm của người khác. Và chắc chắn các con sẽ thành công làm cho những kẻ, dù đáng khinh nhất, thành những người xứng đáng cho nước Trời”.

          – Thầy đã nói một dụ ngôn thật đẹp! Con muốn viết cho Margziam

          – Zêlote nói.

           – Và với con thì phải làm hoàn toàn đẹp đẽ cho Chúa – Auréa nói nhẩn nha từng tiếng, vừa nói vừa tìm chữ. Nó đi chân đất và đứng ở cửa vườn đã từ một lúc.

          – Ồ, Auréa, con đã nghe chúng ta nói à? – Giêsu hỏi.

          – Con đã nghe Thầy. Thật là đẹp! Con có làm bậy không?

          – Con ơi, không. Con ở đây lâu chưa?

          – Chưa. Và con tiếc, vì con không biết rằng Thầy đã nói từ trước. Mẹ Thầy sai con đến nói với Thầy là sắp đến giờ ăn. Sắp sửa lấy bánh ra khỏi lò. Con đã học làm bánh… Thật là đẹp! Và con tẩy trắng vải. Về bánh và về vải, mẹ Thầy đã nói cho con hai dụ ngôn.

          – A! Thế à? Mẹ đã nói gì?

          – Nói rằng con giống như bột còn ở trên rây. Nhưng lòng nhân từ của Thầy đã làm sạch cho con, ơn sủng của Thầy đã làm việc nơi con, sự giảng dạy của Thầy đã tạo hình cho con, tình yêu của Thầy nướng chín con, và từ nắm bột thô kệch, được nhào lộn với biết bao cái của Thầy, sau cùng, nếu con để cho mình được làm việc bởi Thầy, con sẽ trở nên thứ bột của bánh thánh, bột và bánh hy sinh để dâng trên bàn thờ. Và về những tấm vải mầu tối, dính dầu, thô nhám, mà sau khi nhào với biết bao bồ hòn, và bao cú đập của hy sinh, nó trở nên sạch sẽ, mềm mại, và bây giờ mặt trời sẽ gởi các tia sáng của nó xuống cho nó, và nó sẽ trở nên trắng… Mẹ nói rằng mặt trời Thiên Chúa sẽ làm như vậy cho con, nếu con luôn luôn ở lại dưới mặt trời, và nếu con chấp nhận sự giặt giũ và cả hy sinh, để trở nên xứng đáng với Vua các vua, với Thầy, Chúa của con. Con đã học được biết bao điều đẹp đẽ… Con thấy như mơ… Đẹp! Đẹp!           Đẹp! Tất cả đều đẹp ở đây… Chúa ơi! Đừng đem con đi nơi nào khác.

          – Con sẽ không tự nguyện đi với Myrta và Noêmi?

          – Con thích ở đây hơn… nhưng… dù với các bà, nhưng không với các người Rôma. Không, Chúa ơi, không…

          – Con ơi, hãy cầu nguyện! – Giêsu nói khi đặt tay Người trên mái tóc mầu mật ong. “Con đã học cầu nguyện chưa?”

          – Ôi! Có. Thật là đẹp để nói: “Cha của con”, và nghĩ về Trời…

          Nhưng… Ý muốn của Thiên Chúa làm con hơi sợ… vì con không biết Thiên Chúa có muốn điều con muốn không…

          – Thiên Chúa muốn điều tốt cho con.

          – Thật à? Thầy đã nói vậy? Vậy con không sợ nữa… Con nghĩ con sẽ ở lại Israel… để càng ngày càng biết người Cha này là cha của con… Và lạy Chúa con! Để con làm môn đệ đầu tiên của nước Gaule.

          – Đức tin của con sẽ được chấp nhận, vì nó tốt. Ta đi thôi.

          Và tất cả đều ra để rửa ráy ở cái bể dưới dòng suối, còn Auréa thì chạy về với Maria, và người ta nghe thấy hai giọng nói của phụ nữ: giọng của Maria bộc lộ cách dễ dàng trọn vẹn, còn giọng kia thì không chắc chắn, còn ngập ngừng để tìm từ, rồi những tiếng cười dòn vì vài từ dùng sai mà Maria sửa chữa cách êm đềm…

          – Con bé học lẹ và biết rành – Tôma nhận xét.

          – Nó có thiện chí đầy tràn và tốt.

           – Lại nữa, nó có mẹ Thầy làm cô giáo. Cả Satan cũng không thể kháng cự lại mẹ!… – Zêlote nói.

          Giêsu thở dài, không nói.

          – Tại sao Thầy thở dài vậy? Con nói sai à?

          – Không. Rất đúng. Nhưng người ta kháng cự hơn là Satan. Nó, ít nhất, chỉ tránh cái nhìn của Maria thôi, còn có những người ở chung quanh mẹ, được mẹ dạy bảo, nhưng không cải thiện…

          – Nhưng không phải chúng con, phải không Thầy? – Tôma nói.

          – Không phải các con… Đi.

          Họ vào trong nhà, và thị kiến chấm dứt.

Quyển 6, đoạn 126: GIÊSU NÓI DỤ NGÔN VỀ VIỆC SƠN GỖ TRONG KHI NGƯỜI LÀM VIỆC

Trích trong bộ sách 10 quyển : “Bài thơ của CON NGƯỜI-THIÊN CHÚA”

Viết bởi: Maria Valtorta

Chuyển ngữ: Nữ tu Phạm thị Hùng CMR

 

Download BÀI THƠ CỦA CON NGƯỜI-THIÊN CHÚA

Viết bởi Maria Valtorta

Dịch gỉa: Nữ tu Phạm Thị Hùng CMR

Quyển 1-Chuẩn Bị.pdf

http://www.mediafire.com/view/?4bcyq77ze4ai2yo

Quyển 2_Năm I Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?ea5acw4wttbdudd

Quyển 3-Năm II Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?o6gi6p73sk5lrhd

Quyển 4-Năm II Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?s9akma9mmdzdb26

Quyển 5-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?yrq9nq416v5s4dx

Quyển 6-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?8vl7kzjkskplk1b

Quyển 7-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?apbbvph8ndui8m3

Quyển 8-Chuẩn Bị Cuộc Tử Nạn.pdf

http://www.mediafire.com/view/?kbp3i58kizp5ad1

Quyển 9-Cuộc Tử Nạn.pdf

http://www.mediafire.com/view/?txb433uklyoke1x

Quyển 10-Vinh Quang.pdf

http://www.mediafire.com/view/?oln727ghllo7536

 

by November 21, 2012 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta), Tâm Linh
Cuộc đời Chúa Giêsu – Quyển 1 (Maria Valtorta)

Cuộc đời Chúa Giêsu – Quyển 1 (Maria Valtorta)

 https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/08/TIN-MUNG-nhu-da-duoc-ven-mo-cho-Toi.jpg

Download TIN MỪNG NHƯ ĐÃ ĐƯỢC VÉN MỞ CHO TÔI 

Viết bởi Maria Valtorta

Dịch gỉa: Nữ tu Phạm Thị Hùng CMR

Quyển 1-Chuẩn Bị.pdf

Xin bấm: http://www.mediafire.com/view/?4bcyq77ze4ai2yo 

      Trích lời dẫn nhập của Linh Mục Giuse Hoàng Minh Thắng trong ” Maria Valtorta 3 “:  

      *Theo lời kể của Linh Mục Leo Maasburg, phụ trách các Nam thừa sai bác ái của Mẹ Têrêxa tại Vienne, thủ đô nước Áo, và là người thỉnh thoảng giải tội cho Mẹ trong 4 năm, Mẹ Têrêxa luôn luôn mang theo ba cuốn sách khi di chuyển: Đó là sách Thánh Kinh, Kinh Thần Vụ và một cuốn sách thứ ba. Khi cha hỏi Mẹ là sách gì, thì Mẹ trả lời là một cuốn sách của bà Maria Valtorta. Khi cha hỏi nội dung cuốn sách, thì Mẹ trả lời và lập lại một cách đơn sơ ”Cha hãy đọc nó”.

      *Một năm trước khi cha Pio qua đời, bà Elisa Lucchi, một ngưới tới xưng tội với cha xin lời khuyên liên quan tới việc đọc tác phẩm ”Bài thơ của Con Người Thiên Chúa” của Maria Valtorta, cha Pio trả lời: ”Không nhũng cha cho phép, mà còn khuyên con đọc nó nữa”.

        (Bài thơ của Con Người Thiên Chúa là tên dịch từ quyển tiếng Anh Poem of the Man God, tiếng Pháp là   L’Evangile tel qu’il m’a été révélé còn được dịch sang tiếng Việt là Tin Mừng như đã được vén mở cho tôi.)


                                MỤC LỤC

Tựa……………………………………………………………………5

Chú thích của dịch giả ………………………………………..9

1* “Người ta có thể gọi Maria là con thứ của Chúa Cha” ..15

2* Joakim và Anna khấn với Chúa ………………………………….16

3* Anna cầu nguyện ở Đền Thờ và Thiên Chúa nhận lời bà …21

4*“Joakim đã kết hôn với sự khôn ngoan của Thiên Chúa,

     được giữ kín trong con tim của người đàn bà công chính” 25

5* Anna, với một thánh vịnh, loan báo chức làm mẹ của bà …27

6* “Đấng Vô Tì Vết không bao giờ ngừng tưởng nhớ tới

     Thiên Chúa”  30

7* Việc sinh hạ Đức Trinh Nữ Maria ……………………………….33

8* “Linh hồn Người đã xuất hiện đẹp đẽ nguyên vẹn như khi

     Thiên Chúa nghĩ tới” 41

 9* “Bông huệ của má! Trong ba năm nữa, con sẽ ở đây” …..52

10* “Đây, con trẻ vẹn toàn với qủa tim bồ câu” ……………….56

11* “Niềm vui của má! Làm sao con biết những điều thánh này?

       Ai đã nói cho con?”   58

12* “Người con đã chẳng đặt sự khôn ngoan của chính Người

        trên môi mẹ mình sao?” 64

13* Maria được dâng vào Đền Thờ ……………………………….66

14* “Người Trinh Nữ Đời Đời chỉ có một tư tưởng:

       hướng lòng Người lên cùng Thiên Chúa”72

15* Cái chết của Joakim và Anna …………………………………74

16* “Chắc con sẽ là mẹ Đấng Kitô” ………………………………78

17* “Mẹ thấy lại tất cả những gì thần trí mẹ đã thấy nơi Thiên Chúa” 85

18* “Thiên Chúa sẽ ban cho con người chồng. Ông sẽ là thánh, vì con

đã phó mình cho Thiên Chúa Con sẽ nói với ông lời khấn của con” 88

19* Giuse được chỉ định làm chồng của người Trinh Nữ …….93

20* Hôn lễ của người Trinh Nữ với Giuse ………………………100

21* “Giuse được đặt như ấn tín trên ấn tín, như một Tổng Thần

       trước cửa Thiên Đàng” 107

22* Đôi tân hôn về tới Nazarét ……………………………………110

23* Truyền tin ……………………..118

24* Sự bất tuân của Evà thứ nhất …………………………………122

25* Evà mới thực thi sự vâng lời trong mọi dịp …………………126

26* Một lời giải thích nữa về tội nguyên tổ ………………………132

27* Báo cho Giuse về việc Êlisabét có thai ……………………… 135

28* “Hãy để Ta lo việc biện minh cho con với chồng của con” 139

29* Maria và Giuse đi Jêrusalem ……………………………………142

30* Từ Jêrusalem tới nhà Zacari ……………………………………144

31* “Đừng bao giờ lột bỏ sự bảo vệ của lời cầu nguyện” ……. 146

32* Tới nhà Zacari ……………………………………………………..148

33* Maria tiết lộ Thánh Danh cho Êlisabét ……………………… 153

34* Maria nói về Con Mẹ ……………………………………………..158

35* “Ơn của Thiên Chúa phải luôn luôn làm cho chúng ta

       nên tốt hơn” 161

36* Việc sinh hạ ông Tẩy Giả ………………………………………..163

37* “Sự trông cậy tươi nở như một bông hoa cho kẻ tựa đầu

       vào lòng từ mẫu của mẹ” 170

38* Lễ cắt bì cho ông Tẩy Gỉa ……………………………………….171

39* Hãy sửa soạn tâm hồn các con để đón nhận ánh sáng … 174

40* Lễ dâng Gioan Tẩy Giả vào Đền Thờ ……………………….. 176

41* “Nếu Giuse ít thánh thì Thiên Chúa đã không ban ánh sáng

       của Người cho ông” 182

42* Maria Nazarét giải thích với Giuse …………………………185

43* “Hãy để Thiên Chúa lo việc công bố cho các con là

       đầy tớ của Người” 188

44* Chiếu chỉ kiểm kê dân số ……………………………………190

45* “Yêu là làm thỏa lòng người yêu vượt ra ngoài tình cảm và

       lợi lộc”194

46* Cuộc hành trình về Bétlem …………………………………196

47* Chúa Giêsu giáng sinh ……………………………………….201

48* “Mẹ là Maria, mẹ đã cứu chuộc người đàn bà bằng việc làm mẹ

       bởi Thiên Chúa của mẹ” 207

49* Các mục đồng thờ lạy ……………………………………….211

50* “Nơi các mục đồng có tất cả những đức tính cần thiết để làm

      kẻ thờ lạy Ngôi Lời” 222

51* Cuộc viếng thăm của Zacari ……………………………….223

52* “Thánh Giuse cũng bảo vệ các linh hồn được thánh hiến” 228

53* Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ ……………………………231

54* Những giáo huấn giãi tỏa ra từ cảnh trước …………….236

55* Bài hát ru của Đức Trinh Nữ ……………………………….239

56* Ba nhà Đạo Sĩ thờ lạy ……………………………………….242

57* Suy niệm về Đức Tin của các nhà Đạo Sĩ ………………250

58* Trốn sang Ai Cập ……………………………………………..258

59* “Sự đau khổ đã là bạn trung thành của chúng ta. Nó có mọi vẻ mặt

        khác nhau và mọi thứ tên” 264

60* Thánh gia tại Ai Cập …………………………………………269

61* “Trong căn nhà này, trật tự được kính trọng” …………274

62* Bài học đầu tiên về việc làm của Chúa Giêsu ………… 279

63* “Cha đã không muốn băng qua các định luật về sự

        phát triển một cách ồn ào”  281

64* Maria là cô giáo của Giêsu, Giacôbê và Juđa ………….284

65* Chuẩn bị y phục cho lễ Vị Thành Niên của Chúa Giêsu 292

66* Khởi hành từ Nazarét cho lễ thành niên của Chúa Giêsu 295

67* Sát hạch về tuổi trưởng thành của Chúa Giêsu tại Đền Thờ 297

68* Giêsu thảo luận với các tiến sĩ ở Đền Thờ ……………..303

69* Sự đau đớn của Maria khi lạc mất Giêsu ………………313

70* Thánh Giuse qua đời ……………………………………….315

71* “Maria đã cảm thấy một đau đớn sắc nhọn

        do cái chết của Giuse” 322

72* Kết luận về đời sống ẩn dật …………………………….. 323

Hết quyển một.

 

Quyển 1-Chuẩn Bị.pdf

http://www.mediafire.com/view/?4bcyq77ze4ai2yo

Quyển 2_Năm I Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?ea5acw4wttbdudd

Quyển 3-Năm II Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?o6gi6p73sk5lrhd

Quyển 4-Năm II Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?s9akma9mmdzdb26

Quyển 5-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?yrq9nq416v5s4dx

Quyển 6-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?8vl7kzjkskplk1b

Quyển 7-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?apbbvph8ndui8m3

Quyển 8-Chuẩn Bị Cuộc Tử Nạn.pdf

http://www.mediafire.com/view/?kbp3i58kizp5ad1

Quyển 9-Cuộc Tử Nạn.pdf

http://www.mediafire.com/view/?txb433uklyoke1x

Quyển 10-Vinh Quang.pdf

http://www.mediafire.com/view/?oln727ghllo7536

 

by November 12, 2012 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta), Tâm Linh
Cuộc đời Chúa Giêsu – Quyển 6, 84: Từ biệt tại Kêriot

Cuộc đời Chúa Giêsu – Quyển 6, 84: Từ biệt tại Kêriot

 https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/11/chua-giang-day-tai-hoi-duong.jpg

TIN MỪNG NHƯ ĐÃ ĐƯỢC VÉN MỞ CHO TÔI

Viết bởi Maria Valtorta

Dịch gỉa: Nữ tu Phạm Thị Hùng CMR

QUYỂN 6

Năm thứ ba đời sống công khai

 

84* TỪ BIỆT TẠI KÊRIOT

          Giêsu nói ở bên trong giáo đường Kêriot. Người ta chen chúc một cách khó tưởng tượng. Người đang trả lời cho người nọ người kia hỏi Người lời khuyên về những vấn đề đặc biệt cá nhân. Sau khi đã làm họ thỏa mãn, Người nói lớn:

          – Thưa qúi vị xứ Kêriot, hãy nghe dụ ngôn từ biệt của Thầy. Chúng ta hãy cho nó cái tên là: Hai ý muốn.

          Một người cha toàn vẹn có hai đứa con trai. Ông yêu cả hai đứa với cùng một tình yêu khôn ngoan. Cả hai đều được khuyến khích để đi vào con đường tốt. Không có một khác biệt nào về cách yêu thương và hướng dẫn chúng. Nhưng có sự khác nhau rõ ràng giữa hai người con: một đứa, người con cả thì khiêm nhường, vâng lời, làm theo ý muốn của cha, không cãi lý, luôn luôn vui vẻ và bằng lòng với công việc.

          Đứa kia, tuy nhỏ tuổi hơn, nhưng thường bất bình. Nó thường cãi lý với cha nó cũng như với cái tôi riêng của nó. Nó không ngừng suy nghĩ, làm những việc đắn đo rất loài người về những lời khuyên và những mệnh lệnh nó nhận được. Thay vì thi hành như nó được ban bố, anh ta cho phép mình sửa đổi, hoặc tất cả, hoặc một phần, tựa như người ra lệnh là người ngu đần. Người anh cả nói với anh ta: “Đừng làm như vậy, em làm cho cha buồn”. Nhưng anh ta trả lời: “Anh là thằng ngốc. Anh chỉ to xác và thô kệch. Hơn nữa, vì là con trưởng nên bây giờ anh đã trưởng thành. Ôi! Tôi không muốn ở lại ngang hàng, nơi ba đã đặt anh vào, nhưng tôi muốn làm hơn: áp đặt các đầy tớ để chúng hiểu rằng chính tôi là chủ. Anh thì với sự êm đềm vĩnh đại của anh, anh cũng chỉ giống như người đầy tớ thôi. Tận thâm tâm, anh không thấy rằng khi anh đi qua, chả ai thèm để ý, dù anh là trưởng nam sao? Có một số còn đi tới chỗ chế diễu anh…” Người con thứ bị quyến rũ, và còn hơn là bị quyến rũ, anh ta là đồ đệ của Satan. Anh ta chú tâm thi hành mọi lời xỏ xiên để quyến rũ người con cả, nhưng anh này trung thành với Chúa trong việc vâng giữ lề luật cũng như vẫn trung thành với cha anh, người mà anh tôn kính bằng lối sống hoàn hảo của anh.

          Nhiều năm qua đi, người con thứ bứt rứt vì không thể hoành hành như anh ta mơ, sau khi đã nhiều lần anh xin với cha anh: “Hãy ra lệnh cho con hành động nhân danh cha, vì danh dự của cha, thay cho cái anh ngu đần này, hiền còn hơn một con cừu”. Sau khi đã nhiều lần thúc đẩy anh cả của anh làm hơn những điều cha anh truyền để áp đặt các đầy tớ, các đồng hương, các láng giềng, anh ta tự nhủ:  “Ôi! Đủ rồi! Sự nổi tiếng của chúng ta đang bị liên lụy, bởi vì không ai muốn hành động. Tôi, tôi sẽ hành động”. Rồi anh ta bắt đầu làm việc chỉ với đầu óc của anh, lao đầu vào kiêu căng, nói dối, bất tuân không e dè.

          Người cha nói với anh: “Con ơi, hãy vâng phục anh cả của con, nó biết phải làm gì” ông ta nói: “Người ta nói với cha là con đã làm điều nọ điều kia, có đúng không?” Người con thứ nhún vai trả lời cho câu trước và câu sau của cha anh: “Anh ấy biết! Anh ấy biết! Anh ấy qúa rụt rè, ngập ngừng. Anh ấy thiếu điều kiện để chiến thắng. Con, con không hành động như vậy”. Người cha nói: “Đừng tìm sự giúp đỡ nơi người nọ người kia. Con muốn ai có thể giúp con hơn là chúng ta để làm rạng danh cho chúng ta. Đó là những bạn hữu giả, chúng kích thích con để rồi sau đó chúng cười vào các chi phí của con”. Người con thứ lại nói: “Ba ghen vì con là người đề xướng sao? Lại nữa, con biết là con hành động đúng”.

          Lại qua đi một thời gian nữa. Người con trưởng luôn luôn thăng tiến trong sự công chính, người con thứ ôm ấp những ước vọng xấu. 

          Sau cùng người cha nói: “Đã đến lúc phải chấm dứt những chuyện đó. Hoặc con phục tùng những điều cha nói, hoặc con mất tình yêu của cha”. Kẻ phản ngụy đi nói với các bạn xấu của anh, họ trả lời: “Bạn sẽ làm gì với chuyện đó? Ồ, không. Có cách hành động để đặt người cha trong điều kiện không thể thương đứa con nọ hơn đứa con kia chứ! Hãy đặt ông ta trong tay chúng ta, và chúng ta sẽ làm công việc của chúng ta. Bạn sẽ tránh được những thiệt hại về vật chất, và của cải sẽ sinh hoa lợi. Sau khi hủy bỏ những điều khoản qúa khoan dung, anh sẽ có thể cho họ những rạng ngời. Anh không biết rằng thà dùng bạo lực, dù bắt phải chịu khổ, còn hơn là bất động để phí phạm của cải sao?” Và đứa con thứ từ đó hoàn toàn đồi bại, liên kết với những đồng lõa bất xứng.

          Bây giờ hãy nói cho Thầy: người ta có thể trách cứ người cha là đã cho hai đứa con ông hai lối giáo dục khác nhau không? Không. Vậy làm sao một người con là thánh, còn người kia hư hỏng? Ý muốn đã được ban cho con người từ trước, có phải là được ban theo hai phương cách khác nhau không? Không. Nó được ban theo một cách duy nhất. Nhưng con người đã thay đổi nó theo ý thích của họ. Kẻ tốt thì làm cho nó thành tốt, kẻ xấu thì làm cho nó thành xấu.

          Thầy, hỡi các con người Kêriot, Thầy thúc giục các con, và đây là lần sau cùng Thầy thúc giục và khuyến khích các con theo con đường của sự khôn ngoan, chỉ theo với ý muốn tốt mà thôi. Thầy đang sắp kết thúc sứ mạng của Thầy. Thầy nói với các con những lời đã được hát lúc Thầy sinh ra: “Bình an cho những người thiện chí”. Bình an tức là sự thành công, tức là chiến thắng ở dưới đất và ở trên trời, vì Thiên Chúa ở với người có thiện chí muốn vâng lời Người. Thiên Chúa không nhìn vào những việc vang lừng mà người ta làm do họ tự đề xướng, cho bằng nhìn sự vâng lời khiêm tốn, mau mắn, trung thành với những việc Người đề nghị.

          Thầy nhắc lại cho các con hai giai đoạn trong lịch sử Israel, hai bằng chứng là Thiên Chúa không ở tại nơi mà con người muốn tự ý hành động, dày xéo lên mệnh lệnh mà họ đã nhận. Chúng ta hãy coi, sách Maccabê có chép rằng: Trong khi Juđa Maccabê cùng với Jonatha đi chiến đấu ở Galaad, và trong khi Simon đi giải phóng cho những miền khác ở Galilê, ông đã ra lệnh cho Giuse con của Jacari, và cho Azarias thủ lãnh của dân, là hãy ở lại Juđê để bảo vệ nó. Juđa nói với họ: “Hãy săn sóc dân chúng, đừng lao họ vào chiến tranh với các dân cho tới khi chúng tôi trở về”. Nhưng Giuse và Azarias nghe nói về các chiến thắng của các Maccabê, cũng muốn bắt chước họ nên nói với nhau: “Chúng ta cũng hãy làm nổi  danh chúng ta. Hãy đi chiến đấu với các dân ở chung quanh chúng ta”. Họ đã bị bại trận và bị đuổi bắt. Và sự thất bại của dân rất bi thảm, vì họ không vâng lời Juđa và các em ông, tưởng là mình hành động anh hùng, nhưng đó là kiêu căng và bất tuân.

          Và ta đọc thấy gì trong sách các vua? Ta đọc: Saul bị khiển trách lần thứ nhất, rồi lần thứ hai. Và ở lần thứ hai, ông bị bài xích vì không vâng lời tới nỗi Đavít đã được chọn để thay thế ông, vì ông bất tuân. Các con hãy nhớ, hãy nhớ: Chúa muốn lễ toàn thiêu, lễ hy sinh, hay Người muốn ta vâng lời tiếng nói của Người? Sự vâng lời có giá hơn lễ hy sinh; sự phục tùng có giá hơn chiên béo hy lễ. Vì sự phản động là một tội phù thủy, sự từ chối vâng lời là tội thờ tà thần: “Vì ông từ bỏ lời Chúa, Chúa cũng từ bỏ ông và cất lấy vương quyền của ông”.

          Các con hãy nhớ, hãy nhớ: Khi Samuel vâng lời, đổ đầy dầu vào chiếc sừng của ông và tới nhà Isai ở Bétlem, vì Chúa đã chọn một ông vua khác. Isai ngồi vào bàn tiệc với các con ông sau khi đã làm lễ hy sinh. Lúc đó các con của Isai được giới thiệu với Samuel.

          Trước tiên là Êliab, con trưởng, cao lớn, đẹp trai. Nhưng Chúa nói với Samuel: “Đừng chú ý tới khuôn mặt và vóc dáng của nó, bởi vì ta đã chừa nó ra. Ta không xét đoán theo cái nhìn của con người. Con người cảm phục những gì mắt họ nhìn thấy, nhưng Chúa nhìn trong qủa tim”. Và Samuel không nhận Êliab làm vua. Ông giới thiệu Abinadab. Nhưng Samuel nói: “Chúa cũng không chọn đứa này”. Và Isai giới thiệu với ông Samma, nhưng Samuel nói: “Nó cũng không được Chúa chọn”. Và tiếp tục như vậy tới hết bảy con trai của Isai hiện diện tại bữa tiệc. Samuel nói: “Có phải đây là tất cả các con trai của ông không?” Isai trả lời: “Không, còn một đứa nữa, còn nhỏ, đang chăn cừu”. “Hãy gọi nó tới, vì chúng ta sẽ không ngồi vào bàn trước khi nó về”. Và Đavít tới, một đứa trẻ tóc vàng, đẹp trai. Chúa nói: “Hãy xức dầu cho nó. Chính nó là vua”.

          Vì các con hãy luôn luôn biết điều này: Thiên Chúa chọn kẻ nào người muốn, và người cất lấy của kẻ nào không đáng vì đã làm hỏng ý Người bởi kiêu căng và bất tuân. Sau lần này, Thầy sẽ không trở lại giữa các con nữa. Ông Thầy đang kết thúc sứ mạng của Người. Sau đó, Người sẽ hơn là một người Thầy. Các con hãy chuẩn bị tâm hồn cho giờ ấy. Các con hãy nhớ, việc Thầy sinh ra đã được chào đón cho các kẻ có thiện chí, cũng vậy, việc thăng thiên của Thầy sẽ được chào đón cho những người có thiện chí theo Thầy như một người Thầy trong giáo thuyết của Thầy, và cho những kẻ sau đó sẽ theo Thầy như vậy, cả sau khi Thầy lên trời.

          Chào các ông, các bà, các trẻ em Kêriot. Chào. Chúng ta hãy nhìn vào mắt nhau. Chúng ta hãy làm sao cho con tim của chúng ta, của Thầy và của các con, tan hòa trong cái ôm ấp của tình yêu giã từ. Và nguyện cho tình yêu luôn luôn sống động, cho dù khi Thầy không còn nữa, không bao giờ còn nữa ở giữa các con…Tại đây, vào lúc Thầy đến lần thứ nhất, một người công chính đã tắt thở trong cái hôn của Vị Cứu Tinh của ông trong một thị kiến vinh quang… Ở đây, lần này là lần sau cùng Thầy đến, Thầy chúc lành cho các con với tình yêu.

           Chào!… Nguyện Thiên Chúa ban cho các con lòng tin, lòng trông cậy và lòng bác ái trong mức độ trọn hảo. Xin Người ban cho các con tình yêu, tình yêu, tình yêu, cho ông ta, cho thầy, cho những người tốt, cho những kẻ khốn nạn, cho kẻ có tội, cho những kẻ phải mang gánh nặng của một tội không phải là tội của họ.

          Các con hãy nhớ! Hãy nhân từ. Đừng bất công. Các con hãy nhớ là không những Thầy tha cho kẻ có tội, mà Thầy còn bao bọc tình yêu trên toàn thể Israel. Toàn thể Israel, gồm những kẻ tốt và những kẻ không tốt, cũng như trong một gia đình, có những người tốt và những người không tốt. Vậy khi bảo một gia đình là xấu vì một trong những phần tử của nó xấu, là điều bất công.

          Thầy đi… nếu còn ai trong các con cần nói với Thầy thì họ hãy đến nhà Maria Simon ở miền quê vào buổi chiều.

          Giêsu giơ tay chúc lành, rồi Người đi ra rất lẹ bởi một cái cửa phụ. Các người của Ngài theo sau. Người ta rì rầm:

          – Người không trở lại nữa.

          – Người muốn nói gì vậy?

          – Người có nước trên mi khi nói lời từ biệt.

          – Qúi vị có nghe không? Người nói Người sẽ lên!

          – Vậy ra Judas thực sự có lý! Chắc chắn sau này Người sẽ là vua, và người không còn ở giữa chúng ta như bây giờ nữa…

          – Nhưng tôi, tôi đã nói chuyện với các anh Người, họ nói Người sẽ không là vua như người ta nghĩ, nhưng là vua Cứu Chuộc như các tiên tri nói. Người sẽ là Đấng Messi, vậy đó!

          – Chắc chắn là vua Messi.

          – Nhưng không! Vua Cứu Chuộc, con người của đau thương.

          – Đúng.

          – Không! …

          Nhưng Giêsu đi lẹ về miền quê.

         *Theo lời kể của Linh Mục Leo Maasburg, phụ trách các Nam thừa sai bác ái của Mẹ Têrêxa tại Vienne, thủ đô nước Áo, và là người thỉnh thoảng giải tội cho Mẹ trong 4 năm, Mẹ Têrêxa luôn luôn mang theo ba cuốn sách khi di chuyển: Đó là sách Thánh Kinh, Kinh Thần Vụ và một cuốn sách thứ ba. Khi cha hỏi Mẹ là sách gì, thì Mẹ trả lời là một cuốn sách của bà Maria Valtorta. Khi cha hỏi nội dung cuốn sách, thì Mẹ trả lời và lập lại một cách đơn sơ ”Cha hãy đọc nó”.

         *Một năm trước khi cha Pio qua đời, bà Elisa Lucchi, một ngưới tới xưng tội với cha xin lời khuyên liên quan tới việc đọc tác phẩm ”Bài thơ của Con Người Thiên Chúa” của Maria Valtorta, cha Pio trả lời: ”Không nhũng cha cho phép, mà còn khuyên con đọc nó nữa”.

        -Linh Mục Giuse Hoàng Minh Thắng (Maria Valtorta 3)

Download TIN MỪNG NHƯ ĐÃ ĐƯỢC VÉN MỞ CHO TÔI 

Viết bởi Maria Valtorta

Dịch gỉa: Nữ tu Phạm Thị Hùng CMR

Quyển 1-Chuẩn Bị.pdf

http://www.mediafire.com/view/?4bcyq77ze4ai2yo 

Quyển 2_Năm I Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?ea5acw4wttbdudd

Quyển 3-Năm II Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?o6gi6p73sk5lrhd

Quyển 4-Năm II Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?s9akma9mmdzdb26

Quyển 5-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?yrq9nq416v5s4dx

Quyển 6-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?8vl7kzjkskplk1b

Quyển 7-Năm III Đời Sống Công Khai.pdf

http://www.mediafire.com/view/?apbbvph8ndui8m3

Quyển 8-Chuẩn Bị Cuộc Tử Nạn.pdf

http://www.mediafire.com/view/?kbp3i58kizp5ad1

Quyển 9-Cuộc Tử Nạn.pdf

http://www.mediafire.com/view/?txb433uklyoke1x

Quyển 10-Vinh Quang.pdf

http://www.mediafire.com/view/?oln727ghllo7536

by November 11, 2012 Comments are Disabled Cuộc đời Chúa Giê-su (Maria Valtorta), Tâm Linh