LỊCH SỬ BIÊN SOẠN THÁNH KINH CỰU ƯỚC, CÁC VĂN THỂ

      Thánh Kinh là cuốn sách kể lại cuộc tình của Thiên Chúa với dân Israel. Con đường tình ấy đã có lịch sử biên soạn dài 1.000 năm cho Thánh Kinh Cựu Ước và 100 năm cho Thánh Kinh Tân Ước.

I. TÓM TẮT LỊCH SỬ ISRAEL

       Israel là một trong các dân tộc sống trong vùng mà giới học giả kinh thánh gọi là ”Nửa vành trăng phì nhiêu”, trải dài từ Ai Cập sang tới Mêdôpôtamia, tức vùng Lưỡng Hà là Iran Irak ngày nay. Trước thời các tổ phụ mấy ngàn năm, đã có nhiều nền văn minh phát triển trong vùng này. Ai Cập là nền văn minh đã đạt tột đỉnh sự cường thịnh của nó vào năm 3.500 trước công nguyên. Ngoài ra còn có nền văn minh Híttít, Sumero-Accadic, Babilonia, và nền văn minh Minoica trên đảo Creta

 1. Thời các Tổ phụ (1850-1500)

      Lịch sử dân Israel bắt đầu với ơn gọi của tổ phụ Abraham vào khoảng năm 1850 trước công nguyên. Từ thành Ur trong vùng Mêdôpôtamia, ông Abraham đã lắng nghe tiếng Thiên Chúa mời gọi từ bỏ nếp sống định cư, để lang thang sống đời du mục, và đi đến miền đất Thiên Chúa sẽ chỉ cho ông là đất Canaan. Abraham đến Haran, đi dọc đất Canaan và cùng các đoàn vật của mình dừng chân nay đây mai đó, tại những nơi có đồng cỏ, có nước và chỗ dựng lều, đặc biệt tại Hebron, mạn bắc sa mạc Negheb.

       Thiên Chúa hứa ban cho Abraham dòng dõi đông đúc (St 15; 17). Nhưng vì đợi mãi mà không thấy có con, trong khi hai vợ chồng ngày càng gìa, bà Sara để cho tổ phụ Abraham ăn nằm với nữ tỳ là Haga để có người nối dõi tông đường (St 16). Ismael là đứa con Haga sinh cho bà Sara. Sau đó khi có con riêng là Igiaác, bà Sara sợ Ismael giành quyền của Igiaác nên yêu cầu Abraham đuổi Haga và Ismael đi (St 21). Ismael sẽ là tổ phụ các dân tộc A Rập.

      Igiaác sinh ra Edau và Giacóp. Nhờ mẹ là bà Rebecca giúp, Giacóp lừa được Edau để cướp chức trưởng nam của anh và được phúc lành của cha, nhưng ông phải chạy trốn về Haran để khỏi bị Edau báo thù. Tại Haran Giacóp làm việc cho ông Laban. Ông Laban có hai con gái là Lea và Rakhel. Giacóp yêu Rakhel là cô em xinh đẹp hơn chị, và bằng lòng làm rể 7 năm, chăm chỉ làm việc cho ông Laban để lấy Rakhel. Nhưng ông Laban đánh lừa Giacóp, thay vì gả Rakhel thì ông gả Lea. Sáng ra Giacóp mới khám phá ra không phải Rakhel mà là Lea. Giacóp khiếu nại, nhưng ông Laban cho biết tập tục không gả cô em trước cô chị. Vì thế để lấy được người mình yêu là Rakhel, ông phải làm rể thêm 7 năm nữa… Sau khi bà Rakhel sinh Giuse cho ông, thì Giacóp xin ông Laban cho ông hồi hương. Ông Laban muốn trả công cho Giacóp vì những năm phục vụ, khiến cho đàn vật của ông gia tăng rất nhiều. Giacóp đã dùng mưu để gầy cho mình các đoàn chiên dê khỏe mạnh nhất, trong khi các con yếu là của ông Laban. Ông Laban đổi thái độ đối với Giacóp. Tiếng Thiên Chúa bảo ông Giacóp trở về quê cha đất tổ. Thế là lợi dụng lúc ông Laban bận đi xén lông chiên, Giacóp cùng các vợ con trốn đi. Được tin báo, ông Laban cùng các con trai và đầy tở đuổi theo kịp và trách móc Giacóp xử tệ với ông. Giacóp nổi nóng trách móc bố vợ: ” Suốt 20 năm con đã ở với cha, chiên cái dê cái của cha của cha không hề sẩy thai, con không hề ăn con chiên đực nào trong đàn vật của cha. Con vật bị cắn xé con không đưa về cho cha, chính con chịu đền; con bị mất trộm vào ban ngày hay ban đêm cha đều đòi con phải trả. Ban ngày con bị nắng thiêu, ban đêm con bị lạnh buốt, không sao chợp mắt ngủ được. Con ở nhà cha đã được 20 năm, con đã phục vụ cha được 14 năm để được hai cô con gái của cha, 6 năm để được chiên của cha, cha đã đổi công xá của con 10 lần. Giả như Thiên Chúa của cha con, là Thiên Chúa ông Abraham thờ và là Đấng ông Igiaác khiếp sợ, đã không ở với con, thì bây giờ hẳn cha đã để con về tay không. Thiên Chúa đã thấy cảnh khổ cực và công lao vất vả của con, và đêm qua Người đã phán xử” (St 31,38-42).

      Ông Laban và Giacóp ký kết giao ước với nhau. Sáng hôm sau, ông Laban dậy sớm, hôn các con các cháu và chúc phúc cho chúng, rồi lên đường về nhà. Ông Giacóp sai các sứ giả đi trước gặp Edau để dọ ý. Khi biết Edau cùng 400 người cũng đang tiến đến gặp ông, Giacóp liền chia người và đoàn vật của ông làm hai trại. Rồi ông lấy một phần của cải tay ông đã làm ra để làm tặng phẩm biếu ông Edau: 200 dê cái và 20 dê đực, 200 chiên cái và 20 chiên đực, 30 lạc đà cái đang cho con bú và con của chúng, 40 bò cái và 10 bò đực, 20 lừa cái và 20 lừa con. Ông giao từng đàn vật riêng rẽ cho các đầy tớ và dặn họ nói với Edau rằng đây là tặng phẩm ông ấy gửi biếu ngài Edau.

      Giacóp cũng chia đoàn người thành 3 nhóm: các nữ tỳ với con của họ đi đầu, tiếp đến là Lea và các con của bà, sau cùng la Rakhel và Giuse. Giacóp vượt lên phía trước sụp xuống đất lậy 7 lần trước khi đến gần anh mình. Ông Edau chạy lại đón em, ôm chầm lấy, bá cổ mà hôn, rồi cả hai cùng khóc. Giacóp giới thiệu mọi người với anh, và năm nỉ anh nhận qùa biếu. Edau muốn hộ tống Giacóp nhưng Giacóp không muốn, rồi hai hên người chia tay…

      Giacóp có 12 người con là nguồn gốc của 12 chi tộc Israel. Vì ghen ghét với Giuse các anh của ông ban đầu muốn giết ông, nhưng sau đó họ bán ông cho các lái buôn người Madian (St 37) Giuse bị dẫn sang Ai Cập và bị bán làm đầy tớ cho quan thái giám của Pharaông Ai Cập là Potipha. Vợ quan thấy Giuse đẹp trai nên say mê ông và quyến rũ ông, nhưng Giuse nhất mực từ chối, vì không muốn phạm tội mất lòng Thiên Chúa và phản bội lòng tin tưởng của quan Potipha. Khi thấy không tài nào quyến rũ được Giuse, bà vợ quan vu khống cho ông tội sàm sỡ với bà. Quan tin lời vợ bỏ tù Giuse. Nhưng vì luôn luôn có Thiên Chúa ở cùng nên trong tù ông Giuse lại được lòng quan cai ngục. Quan đặt ông cai quản các người tù. Trong số các tù nhân có cả quan chước tửu và quan chánh ngự thiện của Pharaông. Hai ông nằm mơ và được Giuse giải thích các giấc mộng: quan ngự thiện bị xử tử, quan chước tửu được phục chức. Nhưng ông quên lời Giuse xin ông bầu cử Pharaông trả tự do cho Giuse. Mãi cho đến một hôm Pharaông nằm mơ thấy ông đứng bên bờ sông Nil và trông thấy 7 con bò cái hình dáng đẹp đẽ béo tốt đi lên, rồi 7 con bò xấu xí đa thịt gầy còm đi lên đứng bên cạnh, và chúng ăn thịt 7 con bò hình dáng đẹp đẽ và béo tốt.

      Rồi Pharaông lại chiêm bao lần thứ hai: vua thấy 7 bông lúa đâm lên trên cùng một cọng, mẩy và tốt. Rồi có 7 bông lúa lép và nám cháy vì gió đông mọc lên sau chúng. Bẩy bông lúa lép nuốt chửng 7 bông lúa mẩy và chắc. Sáng ra Pharanog cho vời tất cả các phù thủy và hiền sĩ Ai Cập đến, rồi kể cho họ nghe giấc mộng. Nhưng không ai giải thích được, lúc ấy quan chước tửu mới sực nhớ tới Giuse và kể lại tài giải thích các giấc mộng của ông. Pharaông cho vời Giuse đến và ông đã giải thích các giấc mộng của vua: Bẩy con bò cái béo tốt là 7 năm, bẩy bông lúa tốt là 7 năm. Bẩy con bò cái ốm nhom xấu xí là 7 năm, bẩy bông lúa còi và cháy nám vì gió đông là 7 năm. Sắp tới là 7 năm rất sung túc trong toàn cõi Ai Cập. Tiếp sau những năm đó là 7 năm đói kém, nạn đói rất trầm trọng sẽ làm cho xứ kiệt quệ. Ông Giuse xin vua xem có người nào thông minh và khôn ngoan, thì đặt người ấy cai quản xứ Ai Cập, rồi đặt các quản đốc lo việc trong xứ, đánh thuế một phần năm trên thóc lúa trong 7 năm sung túc. Rồi thu tích mọi lương thực của 7 năm được mùa, chất chứa lúa mì trong thành, để Pharông toàn quyền xử dụng trong 7 năm đói kém.

      Thế là Pharông đặt ông Giuse làm Tể tướng cai quản toàn nước Ai Cập. Năm ấy ông Giuse được 30 tuổi. Trong 7 năm đói kém các con của ông Giacóp cũng phải sang Ai Cập mua lúa mì. Giuse nhận ra các anh, nhưng họ không nhận ra ông. Ông giả vờ không biết họ và nói chuyện với họ qua người thông ngôn. Sau cùng không dằn lòng được nữa ộng tỏ mình ra cho các anh. Giuse gửi qùa cáp về cho cha và gia đình ông Giacóp sang sống bên Ai Cập, được Pharông qúy trọng. Đó là vào khoảng thế kỷ XVI trước công nguyên, khi Ai Cạp do người Hyksos cai trị (1750-1550). Và dân Israel đã sống 400 năm bên Ai Cập.

 2. Thời xuất hành (1300-1250)

      Dân Israel sống 400 năm bên Ai Cập và sinh sôi nảy nở đông đúc khiến cho Pharaông Seti I lo sợ nên ra lệnh sát hại các con trai người Do thái. Khi không giấu được con nữa, bà mẹ ông Môshê bỏ con vào trong một cái thúng rồi bỏ trôi trên sông Nil. Thúng giạt vào nơi công chúa Ai Cập thường xuống tắm sông, và Môshê được công chúa cứu sống, nhận làm con, rồi giao cho chính mẹ của ông đem về nuôi hộ. Sau đó bà đem Môshê lại cho công chúa để công chúa giáo dục ông. Môshê trở thành hoàng tử trong triều đình Ai Cập.

      Hồi đó Pharaông Ramses II bắt dân Do thái làm lụng vất vả để xây thành phố Pi Ramses. Một hôm Môshê đi xem người do thái làm việc. Khi thấy đốc công Ai Cập đánh đập dân mình tàn bạo, ông giết tên cai Ai Cập rồi vùi xác vào cát. Nhưng câu chuyện vỡ lở tới tai Pharaông Ramses II và Pharaông tìm cách giết Moshê. Môshê bỏ trốn vào trong sa mạc và tới sống tại Madian. Tại đây, ông trở thành con rể của tư tế Giêtrô và chăn đoàn vật cho ông. Một hôm khi ông tới núi Horeb trong bán đảo Sinai, Thiên Chúa đã kêu gọi ông lãnh đạo cuộc giải phóng dân Israel khỏi kiếp sống nô lệ bên Ai Cập (Xh 3-15).

      Trong cuộc hành trình qua sa mạc Sinai, dân Israel đói khát kêu ca lẩm bẩm than trách Thiên Chúa. Thiên Chúa đã cho họ nước uống, bánh và thịt để ăn. Nhưng tại Rơphiđim, vì không có nước uống họ lại gây sự với ông Môshê và muốn ném đá ông. Thiên Chúa đã truyền cho ông cầm gậy đập vào tảng đá để vọt nước ra cho dân uống. Nhưng thay vì đập một lần là đủ, ông đã đập hai lần. Vì thế ông và anh ông là thầy cả Aharon bị phạt không được vinh dự dẫn dân Israel vào Đất Hứa (Ds 20,1-13).

      Khi tới gần Đất Hứa, ông Môshê sai ông Giôsuê và một số người khác vào thám thính đất Caaan. Nhưng khi nghe một vài người trong đội thám thính xuyên tạc tường thuật và miêu tả các dân sống trong vùng, con cái Israel lo sợ không muốn vào Đất Hứa. Họ nổi loạn đòi ném đá ông Môshê và bầu một thủ lãnh khác dẫn họ trở về Ai Cập. Giavê Thiên Chúa nổi giận đánh phạt các người xuyên tạc và truyền cho ông Môshê dẫn toàn dân trở vào trong sa mạc, và Người phạt họ lang thang 40 năm trời, để cho thế hệ các người phản loạn chết hết trong sa mạc, và chỉ có con cháu họ đươc vào Đất Hứa mà thôi.

 Trước khi qua đời, ông Môshê đặt tay trên Giôsuê phong Giôsuê làm thủ lãnh thay ông dẫn đưa dân Israel vào Đất Hứa (1230-1220).

 2. Thời các Thủ lãnh (1200-1020)

      Sau khi hoàn tất cuộc vào Đất Hứa, các chi tộc sống hầu như độc lập trong vùng đất của mình. Chỉ khi nào bị đàn áp hay hiểm nguy các chi tộc mới huy động và liên minh với nhau để chống lại các thù địch. Trong suốt thời gian này Thiên Chúa đã chọn các Thủ Lãnh hướng dẫn dân Israel, đặc biệt khi phải chống lại các dân tộc khác đàn áp ước hiếp họ, nhất là người Philitinh. Sách thủ Lãnh kể lại chuyện của 12 Thủ Lãnh trong đó có bà Deborah và ông Samson (Tl 1-16).

      Năm 1050, khi nghe quân Philitinh cướp Hòm Bia Thiên Chúa và hai con đã bị giết, thầy cả Eli té ngửa ra sau, đầu đập vào cạnh cửa giập gáy mà chết. Vào khoảng năm 1040 Samuel được Thiên Chúa chọn làm ngôn sứ kiêm Thủ Lãnh dân Israel.

 3. Thời quân chủ (1030-587)

       Khi Samuel già ông đặt các con ông làm thủ lãnh, nhưng họ ngả theo lợi lộc, nhận qùa hối lộ và làm sai lệch công lý. Vì thế toàn thể các kỳ mục tụ tập nhau lại và xin ông Samuel lập cho họ một vi vua để xét xử và lãnh đạo họ, giống như các dân tộc khác.

      Samuel bất bình, nhưng Thiên Chúa bảo ông cứ nghe lời họ xin, vì họ gạt bỏ Người cứ không gạt bỏ ông. Thiên Chúa cũng truyền cho ông nói cho họ biết các hậu qủa tiêu cực sẽ xẩy ra cho họ và cho con cái của họ, khi sống dưới quyền cai trị của các vua. Nhưng dân chúng không chịu nghe tiếng ông Samuel. Thiên Chúa truyền cho Samuel xức dầu tấn phong Saul làm vua đầu tiên của dân Do thái (1030-1010 trước công nguyên).

      Trong cuộc chiến với người Philitinh vua Saul đã tự ý dâng tế lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa, mà không chờ ngôn sứ Samuel tới để ông làm điều đó. Vì thế, ông sẽ bị phế bỏ và Thiên Chúa sẽ chọn một người khác. Thiên Chúa sai ngôn sứ Samuel xức dầu phong vương cho Đavít. Tuy nhiên, trong những ngày còn sống Saul được sự trợ giúp của Đavít. Chiến thắng của Đavít trên Goliát đã khiến cho quân Philitinh tán đởm kinh hồn, và từ đó trở đi Đavít là ngôi sao sáng trong triều đình của vua Saul, đánh đâu thắng đó. Nhưng vua Saul ghen tức với Đavít, và mấy lần tìm cách sát hại Đavít, khiến cho Đavít phải bỏ trốn và trở thành thủ lãnh của những người sống ngoài vòng pháp luật (1 Sm 17-24). Có dịp để trả thù và sát hại vua Saul, nhưng Đavít tôn trọng đấng được xức dầu của Thiên Chúa, mà không ra tay hạ sát vua Saul (1 Sm 26). Trong thời gian 2 năm Đavít và các quân binh của ông phục vụ vua Akhis người Philitinh, nhưng các vương hầu Philitinh khác không muốn ông cùng họ đánh nhau với người Do thái, vì sợ ông làm phản.

      Sau khi vua Saul qua đời trong trận đánh tại núi Gilboa năm 1010, Đavít lên làm vua Giuđa và toàn cõi Israel (1010-970 trước công nguyên), đánh đông dẹp bắc và thành lập một vương quốc rộng lớn, khiến cho mọi dân tộc chung quanh phải vị nể (2 Sm 8).

      Năm 972 vua Salomon lên ngôi thế vua cha cai trị vương quốc cho tới năm 933 trước công nguyên, và xây Đền Thờ Giêrusalem nguy nga lộng lẫy trong vòng 4 năm để dâng kính Thiên Chúa (1 V 6,1).

      Sau khi vua Salomon qua đời năm 933 trước công nguyên, vương quốc bị chia đôi thành vương quốc Israel miền Bắc và vương quốc Giuđa miền Nam.

           1) Vương quốc miền Bắc được cai trị bởi 18 vua sau đây:

      Gieroboam I (933-911), Nađáp (911-919), Baesha (910-887) Ela (887-886), Zimri (7 ngày), Omri (886-875) người xây cất thủ đô Samaria, Akhab (875-853), Akhazias (853-852), Gioram (852-841), Giehu (841-814), Gioakhaz (820-803), Gioas (803-787),m Gieroboam II (787-747), Dakharia (747), Shallum (747-746), Menahem (746-737), Pekahya (736-735), Pekah (735-732), Hosea (732-724).

      Ngôn sứ Elia hoạt động dưới thời vua Akhab, ngôn sứ Eliseo hoạt động dưới thời vua Gioram, hai ngôn sứ Amos và Hosea hoạt động dưới thời vua Gieroboam II.

      Năm 722 trước công nguyên vua Sargon II vua Assiria đánh chiếm vương quốc miền Bắc, đốt phá thủ đô Samaria bình địa, và đầy dân Do thái sang Ninive. Vương quốc miền Bắc biến khỏi lịch sử.

           2) Vương quốc Giuđa miền Nam được cai trị bởi các vua:

      Roboam (933-916), Abiyam (915-913), Asa (912-871) Giosaphat (870-846), Gioram (848-841), Akhazias (*41) Athalia (841-835), Gioas (835-796), Amasias (811-782), Azarias (= Ozias 781-740), Giotam (740-735), Akhaz (735-716), Ezekias (716-687), Manasse (687-642), Amon (642-640), Giosias (640-609), Gioakhaz (609), Giogiakim (609-598), Giogiakin (598-597), Sedecias (597-587).

      Ngôn sứ Nakhum hoạt động dưới thời vua Manasse, hai ngôn sứ Sophonia và Giêrệmia hoạt động dưới thời vua Giosias, hai ngôn sứ Giêrêmia và Khabacuc hoạt động dưới thời vua Giogiakim, ngôn sứ Edekien hoạt động dưới thời vua Sedecias.

      Năm 598 trước công nguyên vua Nabucodonosor của Babilonia bao vây thành Giêrusalem; thành đầu hàng, nhà vua và dân Do thái bị đi đầy đợt đầu tiên, trong số các người bị đi đầy có ngôn sứ Edekiel. Năm 589 trước công nguyên vua Sedecias nổi loạn chống đế quốc Babilonia. Năm 587 thành Giêrusalem bị chiếm và Đền Thờ bị đốt phá. Dân Do thái bị đi đầy bên Babilonia đợt thứ hai. Và năm 582-581 bị đi đầy đợt thứ ba.

 4. Thời đế quốc Ba Tư (538-333 trước công nguyên)

      Năm 538 vua Ciro cho phép người Do thái hồi hương dưới sự hướng dẫn của ông Shesbazar. Giữa các năm 520-515 người Do thái tái thiết Đền Thờ Giêrusalem. Hai ngôn sứ Khacgai và Dacaria hoạt động trong thời gian này.

      Năm 458 ông Esdra hoạt động tại Giêrusalem. Năm 445 ông Nehemia hiện diện tại Giêrusalem xúc tiến việc tái thiết tường thành. Năm 432 ông Nehemia hiện diện tại Giêrusalem lần thứ hai và đề ra các cải cách khác nhau.

      Giữa các năm 440-400 cộng đoàn Do thái Palestina liên lạc với các người do thái sống trong vùng Ai Cập Thượng.

      Khoảng năm 400 hoàn thành việc biên soạn toàn bộ Ngũ Thư.

 5. Thời đế quốc Hy Lạp (333-63)

      Năm 333 Aláchxăng Đại đế, con vua Philiphê của Macedonia, bắt đầu đánh chiếm các nước vùng Tiểu Á, Siria, Ai Cập, Ba Tư cho tới biên giới Ấn Độ và thành lập một đế quốc rộng mênh mông. Trước khi qua đời năm 323, ông chia đế quốc cho các tướng lãnh cai trị.

     Nhà Lagid cai trị Ai Cập, nhà Seleucid cai trị Siria và Babilonia. Vào thế kỷ thứ III Thánh Kinh Do thái được dịch ra tiếng Hy Lạp bên Alessandria: đó là bản dịch Septanta hay Bản Dịch Bẩy Mươi viết tắt là LXX. Giữa các năm 320-200 Palestina nằm dưới quyền cai trị của nhà Lagid. Nhưng sau đó giữa các năm 200-142 Palestina nằm dưới quyền cai trị của nhà Seleucid. Chương trình hy lạp hóa Palestina khiến cho dân Do thái gặp rất nhiều khó khăn với các vua nhà Seleucid.

      Năm 167 trước công nguyên, vua Antioco Epifane IV ra sắc lệnh cấm Do thái giáo và dâng kính Đền Thờ Giêrusalem cho thần Zeus. Cuộc bách hại Do thái giáo khiến cho thầy cả Mattathias nổi loạn. Ông và các con cùng các tín hữu trung thành với Lề Luật vùng dậy tổ chức phong trào kháng chiến. Cuộc kháng chiến do Giuđa con của ông lãnh đạo. Năm 164 trước công nguyên quân kháng chiến tái chiếm thành Giêrusalem và thanh tẩy Đền Thờ. Năm 160 Giuđa Macabei tử trận.

      Gionathan anh của Giuđa lên lãnh đạo (160-143) và đánh chiếm mở rộng đất của người Do thái. Gionathan được chỉ định làm thượng Tế năm 152.

      Simon, một người anh khác của Giuđa, tiếp nối sự lãnh đạo của nhà Macabei (143-134).

      Dân Do thái được độc lập (142-63). Gioan Hyrcano con của Simon cai trị giữa các năm 134-104. Aristobulo I con ông cai trị giữa các năm 104-103 lấy tước hiệu là vua. Tiếp đến là Alessandro Janné, em của Aristobulo, cai trị giữa các năm 103-76 trước công nguyên. Rồi tới phiên Alessandra vợ ông cai tri giữa các năm 76-67. Sau đó hai con của Alessandra là Hyrcano II và Aristobulo II tranh giành quyền bính và chức Thượng Tế. Năm 63 trước công nguyên Pompeo tướng Roma đánh chiếm Giêrusalem.

 6. Thời đế quốc Roma (từ năm 63 trở về sau)

      Năm 50 trước công nguyên đất Palestina sống trong rối loạn: Hyrcano II là thượng tế, nhưng tướng Antipater lãnh đạo quốc gia.

     Năm 40 Palestina bị người Parthe xâm lăng. Antigone con vua Aristobulo II là vua và là Thượng tế. Xảy ra các tranh chấp nội bộ giữa các phe phái khác nhau.

      Năm 37 trước công nguyên, Hêrôđê, con vua Antipater, chiếm thành Giêrusalem và cai trị nó cho tới năm thứ 4 trước công nguyên, là năm Đức Giêsu Con Thiên Chúa nhập thể làm người và chào đời, khai mào công trình cứu độ con người.

II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THÁNH KINH CỰU ƯỚC

       Thánh Kinh Cựu Ước đã thành hình từ từ dọc dài 1.000 năm theo các chặng chính sau đây:

 1. Dưới thời vương quốc Giêrusalem (vua Đavít 1010-970, và vua Salomon 972-933 trước công nguyên)

      Vua Salomon đã thừa hưởng được từ vua Đavít một vương quốc rộng lớn, hùng mạnh và thịnh vượng chưa từng thấy trong lịch sử dân Israel. Nhà vua tổ chức triều chính theo kiểu tổ chức của Pharaô Ai Cập với giới ký lục có bổn phận biên chép mọi sự. Bầu khí hòa bình và sự thịnh vượng chính trị, kinh tế cũng giúp cho nền văn hóa nở hoa. Người ta bắt đầu biên soạn các truyền thống. Thánh Kinh Cựu Ước ghi lại hai tác phẩm bị mất: ”Sách của người công chính”, và ”Sách các cuộc chiến của Giavê”.

      Dưới thời vua Salomon người ta cũng biên soạn: lịch sử Hòm Bia Thánh (1 Sm 2-5) lịch sử kể vị vua Đavít (2 Sm 9-20). Thế rồi người ta cũng thu thập các bài thơ như Thánh thi của Hòm Bia và Điếu văn khóc Abner, chắc chắn là do chính vua Đavít biên soạn (2 Sm 1; 3). Có lẽ vài thánh vịnh và các câu nói, sau này sẽ được gom lại trong sách các Châm Ngôn, cũng đã được sáng tác trong thời này.

      Nhưng nhất là người ta biên soạn Lịch sử thánh của vương quốc Giuđa miền Nam, cũng gọi là Truyền Thống Giavít (viết tắt là J).

 2. Trong thời vương quốc miền Bắc (935-721)

      Sau khi vua Salomon băng hà, vương quốc thống nhất bị chia đôi thành vương quốc Israel miền Bắc, và vương quốc Giuđa miền Nam. Năm 722 trước công nguyên Vương quốc miền Bắc bị vua Sargon II của đế quốc Assiria đánh chiếm. Thủ đô Samaria bị phá hủy và thiêu rụi hoàn toàn.

      Vào thế kỷ thứ IX người ta biên soạn các truyền thống liên quan tới ngôn sứ Elia (1 V 17-19; 21; 2 V 1-2); và vào khoảng năm 750 ”Hạnh ngôn sứ Elidêô” (2 V 3-9) hay các trang đẹp của lịch sử như trình thuật cuộc cách mạng của ông Giêhu (2 V 9-10).

      Một vài lời sấm của ngôn sứ Amos và Hosê cũng được ghi chép. Chắc hẳn vào năm 750 người ta cũng biên soạn Lịch sử vương quốc miềm Bắc, mà chúng ta gọi là Truyền thống Êlôhít (viết tắt là E).

      Sau cùng người ta cũng thu thập các luật lệ để thích ứng luật cũ với tình trạng mới của xã hội. Chúng mang nặng ảnh hưởng sứ điệp của các ngôn sứ, nhất là của ngôn sứ Hosê. Các tập luật lệ này được gọi là Truyền Thống Đệ Nhị Luật (viết tắt là D) và sẽ là nhân tố của sách Đệ Nhị Luật.

 3. Trong thời vương quốc Giuđa (721-587)

      Trước khi vương quốc Israel miền Bắc bị đế quốc Assiria xâm lăng và tàn phá vào năm 722 trước công nguyên, một số thầy Lêvi chạy trốn về Giêrusalem, đem theo các tác phẩm văn chương biên soạn tại miềm Bắc như Lịch sử miền Bắc, tức Truyền Thống Êlôhít, các sưu tập luật lệ, sấm ngôn của các ngôn sứ đã rao giảng tại vương quốc miền Bắc vv… Các Luật Lệ xem ra qúa in dấu tinh thần miền Bắc, vì thế chúng bị ”kỳ thị” và lãng quên trong một thế kỷ, vì bị để nằm mốc meo trong thư viện của Đền Thờ. Năm 622 trước công nguyên, tình cờ trong một lần tu sửa Đền Thờ vua Giosia khám phá ra các Luật Lệ này và dựa trên đó để phát động cuộc canh cải tôn giáo. Một số các ký lục bắt đầu trộn lẫn hai tài liệu với nhau: Lịch sử miềm Nam hay Truyền Thống Giavít và Lịch sử miền Bắc hay Truyền Thống Êlôhít, và làm thành một tài liệu thứ ba gọi là Truyền Thống Giêhôvít (viết tắt là JE). Việc hòa nhập hai truyền thống khéo đến độ khó có thể phân biệt được chúng trong văn bản Giêhôvít. Nó là gia tài chung của các chi tộc miền Bắc và miền Nam.

      Cuộc cải các tôn giáo do vua Giôsia phát động sẽ đưa ra ánh sáng các Luật Lệ bắt nguồn từ miền Bắc. Chúng sẽ được bổ túc và trở thành sách Đệ Nhị Luật.

      Dưới ánh sáng giáo huấn của sách Đệ Nhị Luật người ta bắt đầu tổ chức các truyền thống liên quan tới Giôsuê, các Thủ Lãnh, Samuel và các Vua. Được biên soạn lại các sách này sẽ trở thành một minh giải bằng hình những gì soạn giả Đệ Nhị Luật tìm diễn tả bằng các diễn văn.

      Sau cùng người ta cũng biên chép ra các sấm ngôn của các ngôn sứ: Xôphônia, Nakhum, Habakkúc, Giêrêmia. Nhiều Thánh Vịnh chắc chắn đã được sáng tác trong thời gian này, trong khi các nhà khôn ngoan tiếp tục các suy tư của họ liên quan tới nhiều vấn đề cuộc sống, đặc biệt về cái chết của vua Giôsia.

 4. Trong thời lưu đầy bên Babilonia (587-538)

      Năm 587 trước công nguyên Nabucodonosor vua Babilonia thống lãnh đại binh tiến đánh vương quốc Giuđa, triệt hạ Giêrusalem và đốt phá bình địa Đền Thờ và thành thánh. Dân Do thái mất hết mọi sự bị đầy sang Babilonia và chỉ còn lại các Truyền Thống. Vì thế họ đọc lại các Truyền Thống đó với tất cả sự đam mê. Hai ngôn sứ Êdêkien và Isaia II đã rao giảng trong thời gian này, một vị vào ban đầu vị kia vào cuối thời lưu đầy.

      Các tư tế thu thập các luật lệ đã biên soạn tại Giêrusalem vào cuối thời vương quốc Giuđa: Luật lệ sự thánh thiện (Lv 17-26). Được khai triển sau thời lưu đầy nó sẽ trở thành sách Lêvi.

      Để nâng đỡ niềm tin và lòng hy vọng của dân Israel, một lần nữa các tư tế tìm dẫn đưa họ trở về nguồn. Việc đọc lại lịch sử này được gọi là Truyền Thống Tư Tế và là truyền thống thứ 4 làm thành chất liệu của Bộ Ngũ Thư hay Ngũ Kinh, tức 5 cuốn sách đầu tiên của Thánh Kinh Cựu Ước. Như thế các yếu tố của Bộ Ngữ Thư đã sẵn sàng, chỉ cần thu thập chúng vào một tác phẩm duy nhất. Điều này sẽ được thực hiện vào năm 400 trước công nguyên.

      Các tai ương, khổ đau khốn khó phải chịu cũng như việc tiếp xúc trước hết với tư tưởng Babilonia và sau đó với tư tưởng Ba Tư, sẽ dẫn đưa các nhà khôn ngoan tới chỗ đào sâu suy tư về các vấn đề cuộc sống con người. Sự kiện này sẽ dẫn đưa tới chỗ biên soạn các tác phẩm như sách ông Gióp trong các thế kỷ sau thời lưu đầy.

      Một cách dễ dàng người ta cũng có thể tưởng tượng được rằng lời cầu nguyện của các tín hữu cũng sẽ có một giọng điệu khác. Một Thánh Vịnh, chẳng hạn thánh vịnh 137 hay 44; 80; 89 có thể nảy sinh ra như lời kêu cầu lên Thiên Chúa tín trung. Tại Giêrusalem, một số tín hữu Do thái không bị đi đầy đã than van khóc lóc với các lời được thu góp trong sách Ai Ca, được gán một cách sai lầm cho ngôn sứ Giêrêmia.

  5. Trong thời thống trị của đế quốc Ba Tư (538-333)

      Năm 538 vua Ciro ký sắc lệnh cho dân Do thái hồi hương chấm dứt 50 năm lưu đầy bên Babilonia. Trong thời gian này có nhiều ngôn sứ đã rao giảng như: Khácgai, Dacaria, Malakhi, Ôvađia, và nhất là Isaia III.

      Nhưng nhất là thời đại này bị ảnh hưởng của các ký lục và các nhà khôn ngoan. Các ký lục như Étra đọc lại các tác phẩm và thu thập chúng lại như bộ Ngũ Thư, hay bổ túc chúng như các sách Sử Biên, Étra, Nơkhêmia.

      Các nhà khôn ngoan cũng thu thập các suy tư đã có từ trước và bắt đầu biên soạn các tác phẩm lớn như sách Rút, Giôna, Châm Ngôn, Gióp.

       Các Thánh Vịnh bắt đầu được hiệp nhất thành các tập và mau chóng trở thành sách Thánh Vịnh.

 6. Dưới thời đô hộ của Người Ky Lạp (333-63) và của người Roma (từ sau năm 63 trước công nguyên)

      Năm 333 Aláchxăng Đại đế bắt đầu đánh chiếm khắp nơi và thành lập một đế rộng mênh mông trải đài từ Ai Cập sang toàn vùng Medopotamia cho tới sát biên giới Ấn Độ. Năm 63 trước công nguyên Pompeo thống lĩnh đạo binh Roma đánh chiếm Palestina. Sau khi nằm đưới ách thống trị của đế quốc Hy Lạp, nước Palestina rơi vào tay đế quốc Roma.

      Trong thời gian này có ngôn sứ Dacaria II rao giảng. Tiến trình hy lạp hóa Palestina khơi dậy các phản ứng khác nhau phò hay chống. Các tác phẩm của nền văn chương khôn ngoan được sáng tác trong thời gian này như các sách: Giảng Viên (Qohelet), Huấn Ca (Ben Sira), Tobia, Diễm Ca, Barúc, Khôn Ngoan. Thánh Kinh Do thái được dịch ra tiếng Hy Lạp tại Alessandria bên Ai Cập, gọi là bản dịch Hy Lạp Bẩy Mươi (viết tắt LXX).

      Các cuộc bách hại người Do thái do vua Antioco IV Epifane phát động năm 167 trước công nguyên làm nảy sinh ra nền văn chương kháng chiến với các tác phẩm như: sách Étte, Giuđitha, Macabê I-II. Nó cũng khiến cho một trào lưu văn chương, thần học phát triển với một loại văn thể đặc biệt là trào lưu khải huyền. Tác phẩm điển hình nhất là sách ngôn sứ Đanien.

      Các Thánh Vịnh cuối cùng được sáng tác và làm thành sách Thánh Vịnh.

      Trong lịch sử hình thành kéo dài 1.000 năm đó tác phẩm cuối cùng của Thánh Kinh Cựu Ước là sách Khôn Ngoan, được biên soạn ra vào năm 50 trước công nguyên.

      Tuy nhiên, nhiều chất liệu của Thánh Kinh Cựu Ước đã có từ nhiều thế kỷ trước và đã hiện hữu trong truyền thống chuyềm miệng và các anh hùng ca. Các biến cố, các câu chuyên hay giai thoại được kể lại từ thế hệ này sang thế hệ khác trong các chi tộc. Chẳng hạn như cuộc đời của các tổ phụ (St 12-50), hay biến cố xuất hành, cuộc giải phóng dân Israel khỏi kiếp sống nô lệ bên Ai Cập, lịch sử đánh chiếm Đất Hứa, những chuyện xảy ra thời các thủ lãnh, các luật lệ vv… Tất cả là các chất liệu đã có từ thế kỷ XIX tới thế kỷ XI trước công nguyên, đa số trong hình thái chuyền miệng, và nói chung đã được biên soạn ra sau đó, bắt đầu từ thời quân chủ, đặc biệt dưới triều đại của vua Salomon.

III. CÁC VĂN THỂ TRONG THÁNH KINH

       Để kể lại lịch sử hay miêu tả các kinh nghiệm của Israel dân được tuyển chọn, các soạn giả kinh thánh dùng nhiều văn thể khác nhau.

      Văn thể là các kiểu diễn tả khác nhau nhằm kể lại các biến cố hay miêu tả các thực tại. Chẳng hạn khi kể lại bệnh tình của một người thân cho một bác sĩ hay cho một nhân viên của văn phòng bảo hiểm sức khỏe, chúng ta dùng các giọng văn khác nhau. Và khi kể, chúng ta cũng dùng các giọng điệu khác nhau tùy theo mức độ thân quen với vị bác sĩ hay nhân viên bảo hiểm sức khỏe. Thế rồi việc kể lại đó cũng còn tùy thuộc tình trạng của người bệnh đang giở sống giở chết hay đã khỏi bệnh nữa vv…

      Tiến sâu hơn một chút, các kiểu trình bầy sự vật hay các văn thể tương ứng với các nhu cầu khác nhau trong cuộc sống của một nhóm người. Mỗi nhóm xã hội đều có một số văn bản nào đó. Thí dụ một hiệp hội câu cá có nội quy riêng đưa ra các điều luật của hội mà mọi thành viên đều phải tuân giữ (nội quy là văn bản có tính cách luật pháp). Thế rồi hội cũng có các khẩu hiệu hay các câu ngắn gọn đánh động tiêu biểu (Hãy di nghỉ hè và câu cá!”), các giai thoại câu cá hi hữu, được thêm mắm thêm muối, thêu thùa, phóng đại trở thành một loại ”anh hùng ca” của hội, trong đó người ta kể lại vụ câu một con kình ngư, hay một con cá mập, hoặc vụ đuổi theo một con cá gươm, như là một cuộc mạo hiểm với các tình tiết nguy hiểm, kỳ bí hấp dẫn đến độ mọi người ta phải há miệng ra mà nghe vv… Ngoài ra, hội còn tổ chức các buổi tranh giải, các lễ kỷ niệm, các buổi gặp gỡ, các bữa tiệc vui vv…

      Như thế, để hiện hữu, mỗi xã hội, mỗi hiệp hội đều tạo ra một nền văn chương riêng. Một dân tộc có các luật lệ, các biến cố và trình thuật lich sử, các buổi lễ, các kỷ niệm, các anh hùng ca, các bài thơ phú, cũng như các bài hát riêng của mình.

 1. Các câu chuyện

      Cần phải nhớ lại qúa khứ và trao ban cho mọi người một tâm thức chung. Chính khi nghe các bô lão kể chuyện mà người ta ý thức được mình thuộc về một gia đình, một chi tộc, một chủng tộc, một vùng miền, một quốc gia. Các câu chuyện kể lại cuộc đời các tổ phụ trong sách Sáng Thế thuộc loại này.

2. Anh hùng ca

      Anh hùng ca cũng là một văn thể kể lại những chuyện qúa khứ, nhưng với mục đích khơi dậy lòng hăng say, hãnh diện và ca ngợi các vị anh hùng của dân tộc, vì thế chúng thường được thêu dệt bằng nhiều chi tiết đặc biệt hay đẹp, đáng khâm phục. Nhiều trang trong sách Xuất Hành và đặc biệt sách Thủ Lãnh thuộc loại này.

3. Các luật lệ

      Các luật lệ giúp tổ chức cuộc sống chung của một dân tộc. Tất cả các văn bản nói về luật lệ trong sách Xuất Hành, Lêvi, đặc biệt là Đệ Nhị Luật đều thuộc loại văn thể này.

4. Phụng vụ, các việc cử hành, các lễ nghi

      Chúng diễn tả cuộc sống chung của một dân tộc, chẳng hạn các hiến tế, các bữa ăn trong một ngày lễ nối kết và gắn chặt các liên hệ trong gia tộc. Như là các hành động tôn giáo chúng biểu lộ tương quan của con người với Thiên Chúa. Sách Lêvi và sách Đệ Nhị Luật thuộc loại này.

5. Các bài thơ, các thánh thi và thánh vịnh

      Chúng diễn tả các tâm tình đức tin của dân Chúa. Tín hữu cầu nguyện với Thiên Chúa, giải bầy các ưu tư, lo lắng, phiền muộn, khổ đau, hay nỗi vui sướng, hạnh phúc, hoặc tâm tình tri ân cảm mến đối với Thiên Chúa, hay sự uất ức trước các bất công tàn ác ủa con người, và đôi khi cả lời nguyền rủa thù địch và giao phó chúng cho sự công thẳng của Thiên Chúa.

6. Các sấm ngôn

      Đây là văn thể các ngôn sứ thường dùng. Chúng là các lời phán trang trọng của Thiên Chúa nhằm tố cáo các tội lỗi và cung cách sống phản bội của dân Israel, mời gọi họ bỏ đường tội lỗi để ăn năn hoán cải, trở về với Ngài, hay những lời đe dọa đánh phạt tội lỗi của họ, hoặc các khích lệ họ sống thánh thiện tốt lành.

 7. Giáo huấn

      Đây là văn thể thông thường của các ngôn sứ, của hàng tư tế. Nó thường được trình bầy trong hình thái dậy dỗ, nhưng cả trong các trình thuật và các câu chuyện hay các dụ ngôn nữa.

 8. Các suy tư khôn ngoan

      Các suy tư khôn ngoan liên quan tới các vấn nạn ngàn đời của con người như: tại sao có sự sống, cái chết, sự dữ và khổ đau vv… Đây là các đề tài được các sách khôn ngoan của Thánh Kinh nói tới.

 9. Huyền thoại

      Huyền thoại là một văn thể có tính cách khôn ngoan, đặc biệt phong phú và sâu sắc. Nó không phải là sản phẩm của óc tượng tượng, chống đối tôn giáo hay phản lịch sử, mà nó là một khả năng nắm bắt được một cách trực giác các thực tại tôn giáo, vô hình và siêu việt.

      Mười một chương đầu sách Sáng Thế chứa đựng rất nhiều yếu tố huyền thoại là kiểu diễn tả chung của các dân tộc vùng Trung Đông Cổ ngày xưa như hình ảnh cặp vợ chồng Adam Eva, vườn Eden hay vườn Địa Đàng, con Rắn, lụt hồng thủy, tháp Babel vv… Các soạn giả kinh thánh lấy lại các hình ảnh biểu tượng, các kiểu diễn tả chung của các dân tộc khác và sử dụng chúng cho các trình thuật của mình, nhưng thanh tẩy chúng khỏi quan niệm đa thần và trao ban cho chúng sứ điệp thần học.

     Mỗi kiểu diễn tả, mỗi loại văn thể, có sự thật của nó. Chúng ta không thể trách chuyện bằng hình Asterix là không chính xác như một cuốn sách lịch sử. Cũng thế, không được đọc trình thuật tạo dựng trong chương 1 và chương 2 sách Sáng Thế như một khảo luận khoa học nhằm giải thích nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc con người. Chương 1 là một bai thơ phụng vụ. Chương 2 là một câu chuyện. Cũng không được đọc trình thuật dân Do thái vượt qua Biển Đỏ sách Xuất Hành chương 14 như là một bài phóng sự trực tiếp biến cố xảy ra, vì nó là một anh hùng ca.

      Như thế, mỗi lần có thể, đều phải hỏi xem văn bản chúng ta đang đọc có văn thể nào và đâu là loại sự thật mà nó muốn nhắn gửi chúng ta.

       Linh mục Giuse Linh Tiến Khải

 

2 Comments

  1. tên của 11 chi tộc của nhà Israel là gì?

    • Tên 12 chi tộc Israel là gì ?
      Các chi tộc Israel mang tên 12 người con của ông Giacóp (Giacóp được Thiên Chúa đổi tên thành Israel)
      – Các con của bà Lê-a: Ru-ben, Si-mê-on, Lê-vi, Giu-đa, I-xa-kha, Dơ-vu-lon.
      – Các con của bà Bin-ha: Đan, Náp-ta-li.
      – Các con của bà Din-pa: Gát, A-se.
      – Các con của bà Ra-khen: Giu-se và Ben-gia-min.
      Giu-se có hai người con sẽ được hưởng danh dự ngang với các chú bác : Ép-ra-im và Mơ-na-sê.
      http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/GIAOLUAT/TuSachGiaoLyGP/GiaoLyPhoThong/02LeSinhHocCuuUoc.htm