Post Tagged with: "ung thư"

Tăng thân nhiệt diệt tế bào ung thư và giảm đau

Tăng thân nhiệt diệt tế bào ung thư và giảm đau

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2017/02/drMarkSircus.jpg

TĂNG THÂN NHIỆT DIỆT TẾ BÀO UNG THƯ
và GIẢM ĐAU NHANH CHÓNG

         Viện ung thư quốc gia (National Cancer Institute) cho biết rằng: “Tăng thân nhiệt (còn gọi là liệu pháp nhiệt) là một loại điều trị ung thư, trong đó mô cơ thể tiếp xúc với nhiệt độ cao. Nghiên cứu đã cho thấy rằng nhiệt độ cao có thể hủy hoại tế bào ung thư, còn với các mô bình thường thì thường thì thường chỉ gây chấn thương rất nhỏ. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy khối u rút nhỏ lại hẳn khi liệu pháp tăng thân nhiệt được kết hợp với các phương pháp điều trị khác “.

Tăng thân nhiệt có thể làm cho một số tế bào ung thư nhạy cảm hơn và tăng cường tác dụng của dược liệu chống khối u. Tây y kết hợp việc tăng thân nhiệt với xạ trị và hóa trị có nhiều tác dụng phụ tai hại. Y học tự nhiên kết hợp tăng thân nhiệt với các dược liệu hóa trị tự nhiên an toàn hơn và hiệu quả hơn.

         Hiệp hội Ung thư Mỹ (American Cancer Society) cho biết rằng: “Tăng thân nhiệt có nghĩa là nhiệt độ cơ thể cao hơn bình thường. Thân nhiệt cao thường do các bệnh gây ra như sốt hoặc trúng nắng. Nhưng tăng thân nhiệt cũng có thể do điều trị nhiệt – qua cách cẩn thận điều khiển nhiệt cho các mục đích y tế. Khi các tế bào trong cơ thể tiếp xúc với nhiệt độ cao hơn bình thường, thì có sự thay đổi diễn ra bên trong tế bào. Những thay đổi này có thể làm cho các tế bào có khả năng bị ảnh hưởng bởi liệu pháp xạ trị hoặc hóa trị. Nhiệt độ rất cao có thể giết chết các tế bào ung thư hoàn toàn. “

          Có nhiều liệu pháp và chất chống ung thư tự nhiên góp phần thay đổi toàn bộ phương diện sinh lý của các mô trong đó các tế bào ung thư tồn tại. Một trong các liệu pháp đó là thay đổi mức độ oxy trong các mô. Thay đổi mức độ oxy là bạn thay đổi hệ quả của bệnh ung thư và các bệnh khác.

          Nguyên tắc của tăng thân nhiệt là các tế bào ung thư rất nhạy cảm và không chịu đựng được những tác động của nhiệt độ cao hẳn hơn so với các tế bào bình thường. Sự lưu thông máu trong các khối u bị suy sụp, như vậy viêc tăng thân nhiệt có thể gây giảm lưu lượng máu đến khối u.

          Murray Pearson bay 25 giờ và đã chi $ 25,000 để trả tiền cho ba tuần điều trị tăng thân nhiệt, một điều trị ung thư mới mẻ thành công lớn ở nước ngoài. Tăng thân nhiệt là một điều trị ung thư cứu sống nhiều người được sử dụng ở nhiều nước châu Âu. Nhưng người ta không cần phải bay đến nơi xa xôi như vậy. Điều trị này có thể được thực hiện một cách an toàn và hiệu quả tại nhà với một phần nhỏ chi phí qua việc sử dụng một BioMat, trị giá khoảng $ 1,750 cho một BioMat Pro có chiều dài 2 mét chiều ngang 70 cm cho toàn thân, và $ 710 cho một BioMat nhỏ.

          BioMat kết hợp hồng ngoại xa, các tinh thể thạch anh tím và liệu pháp ion âm. Nằm trên BioMat bạn sẽ cảm được một sức nóng ấm thấm sâu vào cơ thể có thể cung cấp cảm giác cao của sự chữa lành và khoẻ khoắn.

          Về cơ bản bạn đang nhận được một massage từ mức độ phân tử của các tế bào đến tuần hoàn máu và bạch huyết tốt hơn, tăng hoạt động của enzyme, giảm độ axit, cân bằng độ pH axit-kiềm, và thanh lọc cơ thể cách dễ dàng.

          Tăng thân nhiệt làm các mạch máu trong khối u cứng bị xáo trộn, bất lợi cho môi trường bên trong khối u. Kết quả là các tế bào của khối u bị suy yếu bởi có ít dưỡng khí oxy, nên nồng độ axit cao, lại không đủ chất dinh dưỡng, do đó ít khả năng chịu đựng việc gia tăng thân nhiệt suy giảm rõ rệt so với tế bào khỏe mạnh trong mô bình thường.

          Thêm một BioMat nhỏ thứ hai để việc điều trị có thể được áp dụng từ cả hai mặt trước và sau cùng một lúc.

Y học:

          Khi hệ miễn dịch bị suy yếu, thì bệnh tật nảy sinh từ một trong hàng loạt các virus, vi khuẩn và nấm đã sống trong cơ thể của chúng ta từ lâu rồi nhưng nằm ngủ không hoạt động. Thay đổi độ pH, nồng độ oxy, nồng độ thán khí carbonic CO2, điện năng và mức độ nước trong tế bào theo chiều hướng xấu thì những mầm bệnh này chỗi dậy để nhảy tràn vào tất cả các mạch máu và các mô của chúng ta. Vì vậy chúng ta phải áp đảo chúng với tình thế khỏe mạnh để giành chiến thắng trong cuộc chiến chống ung thư.

          Trong khi sốt có thể được xem như là một quá trình phát triển và điều chỉnh hoạt động của cơ thể khỏe mạnh, thì cơ thể lạnh không bao giờ có thể được xem như một điều kiện bình thường hoặc khỏe mạnh. Thân nhiệt thấp tạo ra một ngôi nhà hạnh phúc cho virus và nhiễm trùng mãn tính trú ngụ, và là một dấu hiệu của sự thoái hóa và tế bào chết từ từ.

          Nhiệt độ cơ thể thấp là bệnh dịch của thế kỷ 21. Đáp ứng của những người có thân nhiệt thấp với những loại thuốc lý tưởng và phương pháp điều trị rất yếu ớt. Khi nhiệt độ của cơ thể giảm thì tất cả năng lượng của tế bào cũng giảm. Sự phối hợp và lựa chọn thông minh của cơ thể con người xuống dốc. Kết quả là tất cả các chức năng tế bào suy yếu. Có sự giảm sút trong sản xuất của mọi kích thích tố, dẫn truyền thần kinh, và các hóa chất khác cần thiết cho việc điều chỉnh sức khỏe bình thường.

          Khi thân nhiệt thấp thì độ axit tăng làm mất nhiều dưỡng khí oxy, là cơ hội cho bệnh truyền nhiễm xâm nhập vào.

Cơ thể con người

          Khi trời trở lạnh thì chuyện gì sẽ xảy ra? Nếu bạn nhảy vào một hồ bơi lạnh, bạn sẽ hít sâu và nhanh. Ngược lại nếu bạn đang trong bồn tắm nước ấm có hệ thống vòi nước massage, hơi thở của bạn sẽ chậm lại. Đây là lý do tại sao trong truyền thống nước ấm đã được sử dụng để thư giãn.

          Tất cả các phản ứng hóa học trong cơ thể được thực hiện dễ dàng nhờ các enzyme. Mỗi phản ứng hóa học thường đòi hỏi năng lượng để xảy ra suôn sẻ và năng lượng này có khi cần khá nhiều. Enzyme là chất trung gian trong phản ứng hóa học giúp giảm năng lượng cần thiết để bắt đầu một phản ứng, và enzyme không thay đổi trong phản ứng.

          Điều kiện để các enzyme hoạt động chính xác lại chỉ trong một phạm vi hẹp. Các enzyme phụ thuộc vào độ pH, điện năng và nhiệt độ của tế bào. Nhiệt độ cơ thể dưới 98,2 ° F (36,8 ° C) có thể gây ra nhiều bệnh khác nhau do làm chậm tiến trình của enzyme.

          Nhiệt độ cơ thể thấp dư đủ để giải thích nhiều vấn đề về sức khỏe, chẳng hạn như: mệt mỏi, nhức đầu, đau nửa đầu, hội chứng trước chu kỳ kinh nguyệt (PMS), dễ lên cân, trầm cảm, dễ cáu gắt, giữ nước, lo lắng và hoảng loạn, rụng tóc, kém trí nhớ, kém tập trung, tình dục thấp, móng tay không lành mạnh, tóc và da khô, không chịu được thời tiết nóng hay lạnh, động lực thấp, ước vọng thấp, mất ngủ, dị ứng, mụn trứng cá, hội chứng đau cổ tay, bệnh suyễn, khó nuốt, táo bón, hội chứng đau đường ruột, đau cơ bắp và đau khớp, vết thương lâu lành, đổ mồ hôi bất thường, ngứa, kinh nguyệt không đều, dễ bầm tím, ù tai, đỏ bừng, hơi thở hôi, khô mắt, tầm nhìn mờ, và nhiều hơn nữa.

          Khi thân nhiệt càng thấp, thì dao động điện càng chậm, do đó các chất dịch cơ thể càng trở nên đặc hơn, nhiều chất nhầy hơn, gây khó khăn cho cơ thể di chuyển các chất dịch trong toàn hệ thống. – Dr. David Jernigan.

          Nhiệt độ cơ thể thấp hơn bình thường có thể báo tình trạng nguy cơ cho tính mạng, chẳng hạn như hạ thân nhiệt, nhiễm trùng máu hoặc thiếu máu. Khi thân thấp hơn 95 ° F (35 ° C), là đe dọa tính mạng. Cơ thể thường tạo ra nhiệt, nhưng khi nhiệt mất đi hơn mức được sản xuất, kết quả là giảm thân nhiệt.

          Khi thân nhiệt giảm xuống, phản ứng tự nhiên của cơ thể là bắt đầu đóng cửa các chi thể ở xa để bảo tồn nhiệt độ cho các cơ quan quan trọng. Trong các trường hợp nghiêm trọng, các chi thể này có thể bị tê cóng. Máu chuyên chở oxy đến các tế bào. Tay chân lạnh thường có lưu lượng máu thấp hơn, nên nhận ít oxy hơn. Điều này dẫn đến các mô sản xuất axit lactic trong vùng lạnh này.  

          Khi cơ thể trở nên lạnh, các mạch máu có xu hướng co lại. Điều này làm cho dòng chảy của máu đến da giảm đi trong nỗ lực bảo tồn nhiệt độ cho cơ thể. Kết quả là cá nhân bắt đầu run rẩy. Hoạt động của cơ bắp bổ sung này giúp tạo ra nhiệt để cơ thể duy trì thân nhiệt trong mức độ an toàn.

          Nhiệt độ cơ thể thấp được y học gọi là hạ thân nhiệt. Thân nhiệt bình thường đã được xác định là 98,6 ° F (37 ° C). Tuy nhiên, than nhiệt thường thay đổi giữa 97,5 – 98,8 ° F (36,4 – 37,1 ° C), và giảm thân nhiệt xảy ra khi nhiệt độ giảm xuống dưới 95 ° F (35 ° C). Khi thân nhiệt độ dưới mức bình thường, nếu không được điều trị, có thể dẫn đến chứng suy hô hấp, suy tim, thiếu máu, vv. Cuối cùng có thể dẫn đến cái chết.

          Có nhiều tình trạng bệnh hay thuốc men làm cho thân nhiệt giảm. Tình trạng này thường bị bỏ qua bởi đa số người ta cho là do môi trường quanh họ. Tuy nhiên, nếu có ai cùng ở chung trong nhà mà không cảm thấy cái lạnh không bình thường như bạn, thì bạn phải đến bác sĩ để chẩn đoán đúng bệnh. Một số nguyên nhân thông dụng nhất của thân nhiệt thấp là:

  • Bệnh tiểu đường (Diabetes)
  • Suy gan (Liver failure)
  • Suy thận (Kidney failure)
  • Ma tuý hoặc lạm dụng rượu (Drug or alcohol abuse)
  • Tác dụng phụ của một số thuốc (Side effects of certain medications)
  • Nhiễm trùng máu hoặc nhiễm trùng lan rộng (Sepsis or widespread infection)
  • Suy tuyến giáp (tuyến giáp trạng kém hoạt động) (Hypothyroidism)
  • Bệnh Addison (tuyến thượng thận suy) (Addison’s disease)
  • Suy tuyến yên (Hypopituitarism)

          Ngoài thời tiết lạnh, thì nguyên nhân làm cho các mao mạch (mạch máu nhỏ nhất) co lại là: nồng độ dưỡng khí oxy và thán khí CO2 thấp, điện năng tế bào thấp, các tế bào bị axit hóa.  

          Nếu bàn tay và bàn chân lạnh trong khi các bộ phận cơ thể gần với trái tim mà ấm, bạn có thể nghi ngờ bạn bị hạ thân nhiệt. Hạ thân nhiệt là một triệu chứng mà cơ thể cảm nhận được. Nguyên nhân là tuần hoàn máu kém. Nhiệt độ thấp sẽ làm cho các mao mạch ở tay và chân co lại. Khi chúng co lại, máu ấm từ trái tim không thể chuyển sức nóng cho toàn bộ cơ thể được.

          Trong hạ thân nhiệt, hệ thống thần kinh giao cảm sẽ thống trị cơ thể khiến cho sự lưu thông máu chậm lại.

          Mối quan hệ giữa hệ thống miễn dịch và nhiệt độ cơ thể rất quan trọng. Nếu thân nhiệt khoảng 36 ° C, các chức năng của hệ miễn dịch tốt. Tuy nhiên, nếu thân nhiệt khoảng 35 ° C, chức năng miễn dịch sẽ suy giảm. 35 ° C là nhiệt độ tối ưu kích hoạt tế bào ung thư. Khi thân nhiệt giảm 1 ° C  thì sẽ làm chức năng miễn dịch giảm 40% và thân nhiệt thấp sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho các bệnh khác nhau phát triển.

          Tăng thân nhiệt thêm 1 ° C không phải là vấn đề quan trọng. Điều quan trọng là phải làm sao tăng thân nhiệt vượt quá mức 36 ° C để cơ thể của chúng ta có thể cải thiện hệ thống miễn dịch mà chống lại ung thư. Theo Giáo sư Abo Touru của Đại học Nagata, chức năng miễn dịch của chúng ta tăng thêm 40% khi chúng ta tăng thân nhiệt thêm 1 ° C . Khi đó chúng ta sẽ có khả năng chống lại một phần lớn ung thư với chỉ riêng hiệu ứng này. Sức mạnh của hệ miễn dịch rất quan trọng trong tiến trình điều trị ung thư và đưa đến kết quả đáng kể.

          Theo Giáo sư Abo, khi cơ thể bị lạnh, các mạch máu sẽ co lại và các dây thần kinh giao cảm sẽ được kích thích. Khi hệ thống thần kinh giao cảm được kích thích, bạch cầu hạt sẽ được bài tiết và tạo tiến trình viêm. Nếu chúng ta có thể kích thích hệ thần kinh đối giao cảm trong tiến trình này bằng cách làm cơ thể nóng lên, chúng ta sẽ có thể kích hoạt các tế bào bạch huyết (lymphocytes) để cải thiện chức năng miễn dịch của chúng ta.

          Tiến sĩ Yoshimizu là một chuyên gia trên thế giới về việc sử dụng liệu pháp nhiệt và ông mở ra một trong những cách đơn giản nhất và thú vị nhất trong việc  điều trị ung thư.

          Nhiều người biết rằng các tế bào ung thư nhạy cảm với nhiệt. Đó là lý do tại sao liệu pháp nhiệt làm nóng cơ thể bên ngoài lên rất là hiệu quả. Vì dòng máu chảy trong khối u cứng chậm, nên có thể tăng nhiệt độ bên trong khối u dễ dàng. Vì môi trường bình thường xung quanh khối u có chức năng điều nhiệt, nhiệt độ của chúng sẽ không tăng nhiều như các tế bào ung thư.   Do đó sẽ có một khoảng cách nhiệt độ giữa các tế bào ung thư và tế bào bình thường.

          Khi khối u nằm ở 42 ° C, nó sẽ trở nên bất động. Tuy nhiên, vì nhiệt độ một tế bào bình thường được giới hạn lên đến 40 ° C do ảnh hưởng làm mát của dòng máu, chúng sẽ không bị ảnh hưởng như các tế bào khối u.

          Vì các tế bào trong khối u không có đủ lượng các mạch máu, chúng không theo quy định của hệ thần kinh tự trị. Do đó, chúng không có đủ lưu lượng máu, chúng sản xuất acid lactic và ở trong trạng thái có tính axit. Khi các tế bào trở nên axit hơn, chúng càng nhạy cảm với nhiệt hơn. Vì thế, khi nhiệt độ tăng lên trên 42 ° C, tế bào ung thư có nhiều khả năng chết một cách tự nhiên.

          Khi thực hiện “liệu ​​pháp nhiệt”, chúng ta sẽ làm tăng cường hệ miễn dịch của chúng ta. Vì thân nhiệt của hầu hết bệnh nhân ung thư dưới 36 ° C, họ cần phải  được tăng thân nhiệt để cải thiện hệ thống miễn dịch của họ.

          Ngoài ra, vì tế bào ung thư dễ bị tổn thương bởi sức nóng, vì thế liệu pháp nhiệt có thể vừa tiêu diệt tế bào ung thư vừa cải thiện hệ thống miễn dịch, chúng ta đạt được hai hiệu quả cùng lúc.

          Các tế bào ung thư dễ bị tổn thương bởi nhiệt độ cao. Mặc dù tế bào bình thường có thể chịu đựng nhiệt độ lên đến 47 ° C, tế bào ung thư chỉ có thể chịu nổi sức nóng lên tới 42 ° C. Bằng cách xem xét các đặc điểm của cả tế bào bình thường và ung thư, các phương pháp khác nhau đã được sử dụng để điều trị ung thư, chẳng hạn như rửa màng bụng bằng nước ấm sau phẫu thuật ung thư.

          Đã có nhiều báo cáo nơi ung thư đã được chữa khỏi sau một cơn sốt cao. Ngoài ra, một phần ba trong số những người có bệnh ung thư được chữa khỏi cách tự nhiên cho thấy có các triệu chứng sốt cao.

Liệu pháp nhiệt gia tăng hệ miễn dịch và không có tác dụng phụ

          Liệu pháp nhiệt gia tăng hệ miễn dịch để điều trị ung thư không có tác dụng phụ và rất hiệu quả trong việc giúp bệnh nhân ung thư vượt qua căn bệnh trầm kha  của họ. Bệnh nhân chỉ thấy cảm giác dễ chịu của sự ấm áp và sức khoẻ cũng như  sức mạnh được hồi phục lại đến từ sức nóng của cơ thể từ trong ra ngoài.

          Tiến sĩ Frank T. Kobayashi đã thực hiện liệu pháp nhiệt để điều trị bệnh ung thư trong 10 năm. Khi ông thực thi liệu pháp này tại các bệnh viện lớn, 70% trong số 52 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối trở nên tốt hơn sau điều trị. Điều trị này kết hợp hai giờ của liệu pháp nhiệt với liệu pháp hóa trị. Bằng cách kết hợp hai phương pháp, họ có thể giảm liều lượng thuốc bằng 1 / 10-1 / 20. Việc điều trị hướng dẫn các tế bào ung thư vào chu trình apoptosis (tự chết) bằng cách tăng nhiệt độ cơ thể lên tới 39-40 ° C. Khi nhiệt độ cơ thể ở mức 39-40 ° C, hệ thống miễn dịch của cơ thể được tăng vọt hẳn lên từ 2 đến 20 lần.

 Kết luận

          Hiệu quả của việc điều trị ung thư qua việc tăng thân nhiệt được sử dụng  tại Viện Ung thư Bicher cho vú, đầu và cổ, và ung thư tuyến tiền liệt đã được viết trong bản tóm tắt các bài báo đăng trên tạp chí Ung thư học của Đức: tỉ lệ trả lời hoàn toàn là 82% đối với bệnh nhân vú, 88% cho đầu và cổ và 93% đối với các bệnh nhân tuyến tiền liệt. Dự kiến ​​tỷ lệ sống sót sau năm năm là 80% đối với bệnh nhân vú, 88% cho đầu và cổ, 87% bệnh nhân tuyến tiền liệt.

          Các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng nhiệt độ cao có thể phá vỡ và tiêu diệt các tế bào ung thư trong các khối u ác tính. Khi các tế bào ung thư chết, các khối u ung thư co lại. Điều trị tăng thân nhiệt áp dụng trực tiếp vào tế bào ung thư, khi được sử dụng với các liệu pháp thuyên giảm ung thư giảm khác, nó hứa hẹn đưa bệnh nhân tiến vào giai đoạn bệnh rút lui. Việc sử dụng BioMat cung cấp chiến thuật cho việc chữa lành này cách thoải mái và dễ chịu.

          Không có gì xa lạ về phương pháp điều trị nhiệt cả. Người ta đã dùng nhiệt để chữa bệnh bằng nhiều cách trong một thời gian dài. Từ thời xa xưa, ông bà chúng ta đã chữa bệnh bằng cách xông hơi cho toát mồ hôi – từ phòng tắm Thổ Nhĩ Kỳ cho tới phòng tắm hơi trong spa hiện đại. Người Ai Cập điều trị các khối u bằng nhiệt từ 5.000 năm trước Công nguyên. Parminides, một bác sĩ Hy Lạp trong năm 500 trước Công nguyên cho biết, “Hãy cho tôi một cơ hội để tạo ra một cơn sốt, và tôi sẽ chữa lành mọi bệnh “.

          Các BioMat ít tốn kém về mặt điều trị so với các liệu pháp Tây Y. Thiết kế BioMat tập trung vào những sóng hồng ngoại xa có lợi nhất trên con người. Nó có một cảm biến để đảm bảo rằng chỉ có những bước sóng này được gửi đi thông qua các siêu sợi Kurera đã được cấp bằng sáng chế, đó là lớp thứ 7 trong số 17 lớp của đệm BioMat.

          Các BioMat sử dụng đá thạch anh tím để khuếch đại tia hồng ngoại xa tự nhiên lên 2-3 lần. Tia hồng ngoại xa bình thường qua ánh sáng mặt trời, phòng tắm hơi hoặc đèn hồng ngoại chỉ có thể xâm nhập 2-5 cm (1-2 inches) tối đa do công nghệ của họ. Các BioMat có thể thâm nhập sâu 15-20 cm (6-8 inches) cho một trải nghiệm nhẹ nhàng và lợi ích hơn. Ngoài ra một người một có thể nằm trên BioMat cách an toàn trong thời gian dài, ngay cả suốt đêm với độ ấm nhẹ!

          Y học hiện đại cũng lưu ý rằng bệnh nhân ung thư khi phát triển một cơn sốt đôi khi đã đi ngay vào giai đoạn bệnh rút lui (remission). Tiến sĩ William Coley đã xuất bản một bài báo năm 1891 về cách gây ra một cơn sốt trong cơ thể bệnh nhân ung thư có thể kích thích sự đáp ứng miễn dịch để thuyên giảm bệnh ung thư (cancer remission).

          Đây là phương thuốc chính; nó có hiệu quả, tác dụng nhanh, và đơn giản đủ để sử dụng tại nhà mà không cần sự giám sát y tế. Các BioMat chỉ đơn giản là dụng cụ hồng ngoại xa tốt nhất. Nó rất dễ chịu và sẽ cung cấp cho bệnh nhân ung thư và bệnh nhân của bất kỳ bệnh gì cơ hội tốt nhất để phục hồi sức khoẻ

Linh mục Hoàng Minh Thắng
Nhóm Tông đồ Mục vụ Sức khoẻ

Bài khác:
https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif Thở tự nhiên đều đặn, chậm và sâu: phòng chống ung thư – Dr. Sircus
https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif Lợi ích của BioMat nệm sinh học hồng ngoại xa (bài 1)
https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif Cách sử dụng BioMat (bài 2)
https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif Hỏi & Đáp về BioMat – Mua BioMat ở đâu?
https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif BioMat và các chứng từ

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/DISCLAIMER.jpg

by Tháng Hai 17, 2017 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Thiên Khí Năng, Ung thư
Điện Năng của Con Người

Điện Năng của Con Người

 https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2017/01/%C4%90I%E1%BB%86N-N%C4%82NG-C%E1%BB%A6A-CON-NG%C6%AF%E1%BB%9CI.jpg

Trích: “Human Voltage” by Dr. Sircus
“Healing is Voltage” by Dr. Tennant

          Để chẩn bệnh và điều trị bệnh thì điện năng (năng lượng điện từ, năng lượng viba) nơi con người hầu như là con đường thẳng và dễ dàng, dễ hiểu hơn cả.

         Điện năng là sự sống và sự sống có điện năng. Nhưng có được bao nhiêu mới đủ? Thiếu điện năng dẫn đến sự chết. Người khoẻ mạnh là người có đủ điện năng, khi điện năng giảm thiểu thì bệnh tật phát sinh. Chính vì vậy mà việc điều trị với điện năng sẽ giúp giải quyết các vấn đề sức khoẻ.

         Điện năng bao hàm các điện tử có nghĩa là điện năng bao gồm dòng điện (current), tần số (frequency), từ trường (magnetic field) cũng như độ axit-kiềm pH, khí oxy và ánh sáng.

         Albert Einstein và nhiều nhà khoa học khác như Niels Bohr nói rằng tất cả mọi thứ là năng lượng. Có một kết nối rõ ràng giữa năng lượng và cấu trúc của vật chất.

         Số lượng điện năng đìều khiển độ axit-kiềm pH và mực độ oxy trong cơ thể chúng ta.

Tất cả năng lượng là điện từ trong thiên nhiên

         Tất cả các nguyên tử, hóa chất và các tế bào sản xuất ra điện từ trường. Mỗi cơ quan trong cơ thể sản xuất điện từ riêng của nó. Khoa học đã chứng minh rằng cơ thể chúng ta có từ trường riêng và tất cả 70 ngàn tỷ tế bào trong cơ thể giao tiếp thông qua các tần số điện từ. Không có gì xảy ra trong cơ thể mà không có một cuộc trao đổi điện từ. Khi một điện tích di chuyển nhanh hơn hoặc trễ hơn vì nguyên do nào đó, thì một làn sóng nhiễu điện từ sẽ tỏa ra không gian xung quanh.

         Một chất lỏng mà càng axit thì càng có ít oxy trong đó. Mọi tế bào trong cơ thể đều cần oxy để sống và duy trì sức khoẻ tốt. Khi dòng máu càng nhiều axit thì càng mang ít oxy trao cho các tế bào, lúc đó tế bào ung thư sẽ sống mạnh. Khi dòng máu kiềm tính thì oxy hiện diện càng nhiều, tế bào ung thư sẽ không còn đất sống. Hiểu được điều này rất quan trọng. Nó cho thấy lợi ích của nước kiềm là nước mang nhiều oxy và giải thích tại sao nước kiềm giúp chống lại bệnh ung thư.

Năng lượng của tế bào

         Mỗi tế bào trong cơ thể được thiết kế để chạy từ -20 đến -25 mV (miliVolt) khi nó ở trạng thái khỏe mạnh. Nếu một tế bào bị thương hoặc là trong tình trạng sửa chữa, cơ thể sẽ tăng điện năng lên đến -50 mV để kích thích máu lưu thông đem các protein mới đến và loại bỏ các chất thải. Tình huống này gây ra các cơn đau cấp tính do cơ thể đang gia tăng viêm nơi đang được chữa lành.

         Khi điện năng nơi các tế bào tuột xuống 15 mV, sau đó có thể thấp hơn còn 10 mV hoặc 5 mV, sẽ gây ra các cơn đau nhức của bệnh mãn tính. Chúng ta có thể làm giảm hay hết đau bằng cách truyền đủ các điện tử trong vùng bệnh này lên đến -50 mV để cơ thể có thể tự chữa lành.

         Dr. Tennant dạy rằng bệnh luôn gắn liền với việc mất điện năng. Điện năng cứ tiếp tục giảm gây ra các bệnh đau mãn tính, nhiễm trùng, và giảm mực độ oxy.

         Chữa bệnh đòi hỏi điện năng nơi các tế bào trở lại với năng lượng cao hơn. Đồng thời các cơ quan và các tế bào của chúng ta cũng cần phải có đủ chất dinh dưỡng tươi sống để xây dựng lại. Như vậy có dinh dưỡng mà thiếu điện năng hoặc có điện năng mà thiếu dinh dưỡng, thì cả hai trường hợp này không đem lại kết quả tốt đẹp như mong muốn được.

Các đìện tử có thể thu được từ nhiều nguồn, bao gồm:

◊ BioMat

◊ Vòng Năng Lượng Viba hay vòng Thiên Khí Năng

◊ Chạy điện như Biomodulator, …

◊ Thảo dược

◊ Thực phẩm chưa qua chế biến

◊ Các loại rau lá xanh, tảo Spirulina, v.v.

◊ Nước kiềm ( Alkaline water)

◊ Sodium Bicarbonate (Baking Soda)

◊ Ánh nắng mặt trời

◊ Làm việc hoặc đứng trên đất

◊ Không khí trong lành, gió, đại dương, v.v.

◊ Tập thể dục, nhún trên rebounder, thể dục Đạt Ma dịch cân kinh, …

         Tiến sĩ Steve Haltiwanger, trong quyển “The Electrical Properties of Cancer Cells –Tính chất điện năng của tế bào ung thư” nói, “Tình trạng thiếu điện tử giải thích lý do tại sao các biện pháp làm tăng điện tử (electron) như nước kiềm hóa, nước chanh, máy phát ion âm, đứng gần thác nước, đứng trên tấm lướt sóng, sử dụng các thảo dược giàu chất chống oxy hóa, ăn rau quả tươi, uống nước ép rau quả tươi, dùng các chất axit axit béo thiết yếu như dầu dừa giúp người có bệnh thoái hóa mãn tính và ung thư tốt hơn. “

         Tận dụng lợi thế của các nguồn lực này sẽ giúp cơ thể tạo ra một hồ bơi của các điện tử. Nếu không có các điện tử, không có dòng điện luân lưu, không có điện năng, chúng ta sẽ chết. Cho nên càng được sạc điện vào người bao nhiêu,  chúng ta càng đầy nhựa sống bấy nhiêu. Năng lượng sinh hoá của tế bào cũng được tăng cường qua việc sử dụng thảo dược giúp cung cấp vất liệu cho sự sửa chữa màng tế bào và tạo cơ hợi thuận lợi cho việc các ti thể sản xuất tế bào năng lượng ATP.

         Cũng thật là quan trọng để chú ý rằng khi điện năng trong cơ thể thấp thì chất dinh dưỡng không thể xuyên qua màng tế bào để vào trong nuôi tế bào và các chất thải không thể ra khỏi tế bào cách dễ dàng được. Khi các mô tràn ngập chất thải và không thể sử dụng các chất dinh dưỡng, thì chức năng của các mô bị sai lệch và dần dần sinh ra các bệnh suy thoái.

         Khi các mô khôi phục lại điện năng, thì các tế bào bắt đầu làm việc, các chất dinh dưỡng vào trong tế bào và các chất thải được loại bỏ ra ngoài, mực độ pH axit-kiềm của tế bào trở nên cân bằng, tế bào giàu có oxy, các mô được cải thiện, và giảm viêm. Tóm lại, chức năng tế bào đạt mức tối ưu. Các chuyên viên y tế nên biết về điều này để bảo đảm đạt kết quả khả quan khi chăm sóc người bệnh

Kim Tuyến trích dịch
www.tongdomucvusuckhoe.net
[email protected]

ĐT 580 763 2733

  Ghi chú: Dr. Sircus hướng dẫn cách làm nước có khoáng chất và kiềm nhẹ để uống như sau: cho một ít baking soda và dead sea salt vào bình nước cất (distilled water), liều lượng tùy tình trạng độ pH axit kiềm của bạn, nếm sao cho thấy nước ngon ngọt là thích hợp với bạn. 

         Ví dụ: Với Kim Tuyến thì trong 2 lít nước cất, KT cho vào 1/2 muỗng cà-phê baking soda (hiệu Bob’s Red Mill) và 1/2 muỗng cà-phê dead sea salt. Nước uống này rất ngon ngọt, trong lành, mát rượi, giúp đã khát và thấy người khoẻ khoắn ra.

Bài khác:
Tương quan giữa Điện Năng Cơ Thể và Độ Kiềm pH đối với sức khỏe

Đức Ông Giuse Hoàng Minh Thắng giới thiệu Vòng đeo tay Thiên Khí Năng

Giới thiệu 3 loại trà: THIÊN PHƯỚC Wellbeing Tea, THIÊN BÌNH wt, THIÊN AN wt

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/DISCLAIMER.jpg

by Tháng Một 30, 2017 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Thảo Dược
Magnesium (magiê) là khoáng chất quan trọng nhất  trong cơ thể

Magnesium (magiê) là khoáng chất quan trọng nhất trong cơ thể

 “Transdermal Magnesium Therapy”
Written by Mark Sircus, AC., OMD

NỘI DUNG:

Mọi bệnh đều có liên quan đến sự thiếu hụt magnesium
Các triệu chứng do thiếu Magnesium
Dấu hiệu cảnh báo giai đoạn đầu
Biểu hiện có khả năng thiếu magnesium

Dấu hiệu của tình trạng thiếu magnesium nghiêm trọng
Chứng từ Magnesium

***

        Magnesium là một chất khoáng cần thiết được cơ thể sử dụng cho hàng trăm phản ứng sinh hóa, nên rất quan trọng cho sức khỏe. Sự thiếu hụt magnesium rộng lớn trong dân số nói chung đã dẫn đến một làn sóng các ca tử vong đột ngột của bệnh tim mạch, tiểu đường, đột quỵ và ung thư. Ngay cả chỉ thiếu hụt một lượng nhỏ magnesium có thể tăng cường sự nhạy cảm với tiếng ồn, căng thẳng, khó chịu, trầm cảm, yếu thần kinh, co giật, run rẩy, lo âu, và mất ngủ.

       Chế độ ăn uống hiện đại, với lượng dư thừa các loại ngũ cốc tinh chế, thực phẩm chế biến và đường, có rất ít magnesium. Ngay cả những magnesium trong gạo lứt và các loại rau tươi đã giảm chất lượng trong những năm gần đây do sự giảm thiểu các khoáng chất trong đất, làm cho việc bổ sung magnesium trở nên cần thiết cho hầu hết mọi người. Tiến sĩ Sircus đề nghị việc sử dụng thẩm thấu magnesium chloride qua da là cách hiệu quả nhất để cải thiện mức độ magnesium một cách nhanh chóng.

 Mọi bệnh đều có liên quan đến sự thiếu hụt magnesium

        Thiếu magnesium thường bị chẩn đoán lầm bởi vì nó không biểu lộ trong các xét nghiệm máu – do chỉ có 1% magnesium của cơ thể được lưu trữ trong máu.

      Hầu hết các bác sĩ và các phòng thí nghiệm không bao gồm magnesium vào trong bản xét nghiệm máu định kỳ. Vì vậy họ không biết bệnh nhân của họ có bị thiếu magnesium hay không, mặc dù nghiên cứu cho thấy đa số người Mỹ bị thiếu magnesium. 

      Tiến sĩ Norman Shealy nói: “Mọi bệnh đều có liên quan đến sự thiếu hụt magnesium” và ” magnesium là khoáng chất quan trọng nhất cần thiết cho sự ổn định điện từ của từng tế bào trong cơ thể. Bệnh do thiếu magnesium xảy ra nhiều hơn là do thiếu các chất dinh dưỡng khác.” Vì sự thiếu magnesium bị bỏ qua nên hàng triệu người đáng lẽ không mắc bệnh lại phải trả gía đắt cho những loại thuốc điều trị trong khi họ có thể được chữa lành qua việc bổ sung magnesium.

        Rất ít người nhận thức được vai trò lớn lao của magnesium trong cơ thể. Magnesium là khoáng chất quan trọng nhất trong cơ thể. Sau oxy, nước và lương thực cơ bản, magnesium có thể là yếu tố quan trọng nhất cần thiết cho cơ thể chúng ta, cực kỳ quan trọng nhưng ít được biết đến. Nó quan trọng hơn canxi, potassium hay sodium và điều tiết cả ba chất khoáng này. Hàng triệu người hàng ngày bị đau bệnh vì thiếu magnesium mà không biết.

 Các triệu chứng do thiếu Magnesium

       Phần lớn magnesium được dự trữ trong các mô, nên các triệu chứng như chuột rút ở chân, đau chân, hay trẹo chân có thể là dấu hiệu đầu tiên. Các dấu hiệu sớm sủa khác bao gồm biếng ăn, buồn nôn, nôn mửa, mệt mỏi và suy nhược. Khi sự thiếu magnesium xấu đi thì các triệu chứng như  tê, cảm giác kiến bò ở tay chân, co giật, thay đổi tính tình, nhịp tim bất thường, và co thắt mạch vành có thể xảy ra.

       Dr. Sidney Baker viết trong một bài báo: ” Thiếu magnesium có thể ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể. Liên quan đến xương và cơ bắp, người ta có thể gặp các vấn đề như trặc chân, chuột rút, căng cơ, đau nhức cơ bắp, đau lưng, đau cổ, đau đầu và trẹo hàm. Ngoài ra, có thể bị tức ngực hoặc cảm giác không thể hít một hơi thở sâu. Có khi hay thở dài. “

       ” Các triệu chứng liên quan đến co thắt của cơ trơn bao gồm táo bón, co thắt đường tiết niệu; đau bụng kinh nguyệt, khó nuốt hoặc có khối u trong cổ họng, đặc biệt là bị kích động khi ăn đường; sợ ánh sáng, đặc biệt là sợ ánh đèn pha sáng của xe chạy ngược chiều cho dù không có các bệnh về mắt, sợ tiếng ồn. “

       Thiếu magnesium, hệ thần kinh trung ương chịu ảnh hưởng rõ rệt. Các triệu chứng bao gồm mất ngủ, lo âu, hiếu động thái quá và bồn chồn với chuyển động liên tục, hoảng sợ, sợ khoảng trống, và rối loạn tiền kinh nguyệt. Triệu chứng liên quan đến hệ thần kinh ngoại biên bao gồm tê, và cảm giác bất thường khác, chẳng hạn như tiếng xe chạy vút qua, tiếng gió hú, và những rung động khác.

       ” Các triệu chứng của hệ tim mạch bao gồm tim đập nhanh, loạn nhịp tim, đau thắt ngực và do co thắt động mạch vành, huyết áp cao và hở van tim. Hãy chú ý rằng không phải tất cả các triệu chứng cần phải xảy ra để nhận biết sự thiếu hụt magnesium, nhưng cũng có nhiều triệu chứng xuất hiện đồng thời. Ví dụ, những người bị hở van tim thường có tim đập nhanh, hồi hộp, hoảng sợ và có các triệu chứng tiền kinh nguyệt, căng thẳng, thèm ăn mặn, thèm các loại bánh ngọt, đặc biệt sô cô la, và đau ở vú.

       Magnesium thật cần thiết cho mọi tế bào trong cơ thể kể cả ở não và là một trong những khoáng chất cần quan tâm nhất để bổ sung vì vai trò quan trọng của nó trong hàng trăm hệ thống enzyme và các chức năng liên quan đến phản ứng trao đổi chất trong tế bào, cũng như cho quá trình tổng hợp protein, cho việc sử dụng các chất béo và tinh bột. Magnesium cần thiết cho việc sản xuất các enzyme giải độc. Sự thiếu magnesium có thể ảnh hưởng đến hầu như tất cả hệ thống của cơ thể.

 Chúng ta cần magnesium như cần nước hàng ngày.
Mãi mãi chúng ta cần magnesium như cần nước
và khi magnesium hiện diện trong nước thì sức khỏe và sự sống gia tăng.

        Một trong những lý do chính các bác sĩ viết hàng triệu toa cho thuốc an thần mỗi năm là để đối phó vấn đề căng thẳng, khó chịu, bồn chồn mà phần lớn do chế độ ăn uống thiếu magnesium của bệnh nhân. Người ta chỉ cần hơi thiếu magnesium một chút là trở nên cáu kỉnh, dễ bị kích động mạnh, và nhạy cảm với tiếng ồn, dễ hồi hộp, sợ hãi và hiếu chiến. Nếu thiếu nhiều hơn hoặc thiếu trong một thời gian dài, họ có thể phát triển chứng co giật, run rẩy, nhịp mạch không đều, mất ngủ, yếu cơ, giật chân tay và chuột rút ở chân.

       Nếu thiếu magnesium nghiêm trọng, não bộ bị ảnh hưởng. Khó suy nghĩ, hoang mang, mất định hướng, trầm cảm, và cả những ảo giác đáng sợ. Các vấn đề này biến mất khi được bổ sung magnesium. Vì một lượng lớn canxi bị mất trong nước tiểu khi thiếu magnesium, nên gây ra vấn đề sâu răng, xương chậm phát triển, loãng xương và xương gẫy hay nứt xương chậm lành. Cùng với vitamin B6 ( pyridoxine ), magnesium giúp giảm thiểu và làm tan sỏi canxi ở thận.

       Thiếu magnesium có thể là một yếu tố phổ biến liên quan đến đề kháng insulin. Các triệu chứng của bệnh đa xơ cứng cũng do thiếu magnesium bao gồm co thắt cơ, yếu cơ, co giật, teo cơ, không có khả năng kiểm soát bàng quang, rung giật nhãn cầu (chuyển động mắt nhanh), lãng tai, và loãng xương. Những người bị đa xơ cứng có tỷ lệ bị chứng động kinh cao. Động kinh cũng có liên hệ với sự thiếu magnesium.

 Các triệu chứng thiếu magnesium khác bao gồm:

 Dấu hiệu cảnh báo giai đoạn đầu:

  • Mệt mỏi thể chất và tinh thần
  • Cơ dưới mắt co giật thường xuyên
  • Căng thẳng ở phần lưng trên, vai và cổ
  • Nhức đầu
  • Giữ nước trước kỳ kinh nguyệt và / hoặc đau ngực

 Biểu hiện có khả năng thiếu magnesium bao gồm:

  • Năng lượng thấp
  • Mệt mỏi
  • Yếu nhược
  • Nhầm lẫn
  • Căng thẳng
  • Lo sợ
  • Khó chịu
  • Co giật (và giận dữ)
  • Tiêu hóa kém
  • Tiền kinh nguyệt và sự mất cân bằng nội tiết tố
  • Mất ngủ
  • Cơ căng thẳng, co thắt và đau
  • Vôi hóa của các cơ quan
  • Sự suy yếu của xương
  • Nhịp tim bất thường

       Thiếu magnesium nghiêm trọng có thể dẫn đến giảm calci máu, giảm potassium máu. Mức magnesium thấp vào ban đêm, dẫn đến rung giật nhãn cầu, mất ngủ.

 Dấu hiệu của tình trạng thiếu magnesium nghiêm trọng bao gồm:

  • Khát nước nhiều
  • Đói lã
  • Đi tiểu thường xuyên
  • Vết loét hoặc vết bầm tím chậm lành
  • Khô, ngứa da
  • Giảm cân không giải thích được
  • Nhiễm trùng thường xuyên hoặc tái định kỳ ở da, nướu răng, bàng quang hoặc nấm âm đạo.
  • Cảm giác kiến bò hoặc tê ở bàn tay hoặc bàn chân
  • Mệt mỏi bất thường hoặc buồn ngủ
  • Mắt nhìn mờ đi, thay đổi từ ngày này sang ngày khác.       

 Chứng từ Magnesium 

     William bị bệnh Parkingson (run rẩy tay chân) hơn 20 năm. Ngày đầu tiên thoa và massage dầu magnesium cho cậu, tôi hy vọng William sẽ được phục hồi chức năng nhưng không dám đặt kỳ vọng cao vì tình trạng nghiêm trọng trong một thời gian dài của cậu. Các triệu chứng trước đó là:

– Không thể nói được gì cả.
– Không thể phát âm rõ.
– Chỉ làm vừa đủ cơ năng và không làm gì tình nguyện cả.
– Không tập thể dục.
– Không thể cố gắng để ngăn chận việc chảy nước dãi được.
– Nước dãi chảy liên tục và nhiều đến nỗi tôi bắt đầu đưa William vào phòng riêng của cậu để cậu ngả mình trên chiếc ghế dựa nằm lớn vì thảm nhà mới thay và nước dãi làm thôi màu thảm không tẩy đi được. Tình trạng này càng ngày càng tệ.
– William cũng bắt đầu hung bạo với tôi. Nếu tôi đẩy cậu mạnh tay, cậu sẽ nổi cơn giận dữ và đánh tôi với bất cứ thứ gì cậu có thể nắm lấy được.

         Ngày đầu tiên tôi thoa dầu magnesium cho William hai lần thì ngay sáng hôm sau khi thức dậy cậu đã:

– Tự mình rửa mặt, đánh răng và mặc áo mà không cần ai nhắc nhở. Điều này đã chưa từng thấy trong hai năm qua.
– Thêm vào đó nước dãi của William không còn chảy ra nữa. Năm rồi ước dãi trở nên quá nhiều đến không kiểm soát được.
– William nuốt thức ăn thức uống cách dễ dàng như uống nước dinh dưỡng, càphê, thuốc cho não bộ, ăn rau tươi sống, ăn trứng mà không còn chảy nước dãi nữa.

         Vì vậy, hy vọng của tôi dâng cao.

         -Điều thú vị đáng kể là chỉ ba ngày sau William đã nói được kha khá.

        Tôi cứ tiếp tục thoa dầu magnesium và để thời gian giải thích sự kiện. Tôi rất phấn khởi về tiến triển ngôn ngữ. Thú thực là tôi đã không mong đợi những kết qủa này:

– Đôi mắt của William sáng hơn.
– Sự tập trung lâu hơn, tốt hơn.
– Nói năng càng ngày càng tiến bộ. William có thể nói chuỗi hai, ba tiếng liền không vấp váp.
– William cũng không còn bạo lực như trước nữa. Ví dụ có lần cậu dùng muôi nhựa múc canh phang vào đầu tôi cách nhanh lẹ 6-7 cái trước khi tôi giật lại được trên tay cậu. Nhưng từ khi bắt đầu thoa dầu magnesium, cậu không còn cáu kỉnh nữa, không bướng bỉnh từ chối ăn uống hay làm những gì tôi yêu cầu.

         Từ sau 3 tuần trở đi, khả năng nói chuyện cứ tiếp tục tiến triển và vững vàng, William có thể giao tiếp và cho biết điều cậu muốn hay cần, đó là việc trước khi điều trị bằng magnesium cậu không thể làm được.

Xin đọc thêm:

Lợi ích của magnesium cho sức khỏe và cách sử dụng – Bài 2

 

LM Hoàng Minh Thắng và Nhóm Tông Đồ Mục Vụ Sức Khỏe

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/05/cavathanhgia.gif

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/DISCLAIMER.jpg

 

Mua trà thảo dược và vòng Thiên Khí Năng ở đâu?

Mua trà thảo dược và vòng Thiên Khí Năng ở đâu?

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2014/12/SNH.jpg

Mua trà thảo dược
vòng Thiên Khí Năng ở đâu?

       Để giúp cho những ai cần mua và không biết cách order sách,  các thảo dược như 66 công thức thảo dược của Dr. Christopher, dầu dừa, lá neem, Vòng đeo tay Thiên-Khí-Năng, trà thanh lọc Thiên Phước Well-being Tea, trà Thiên Bình Well-being , trà Thiên An Well-being Tea,  các loại muối ăn tốt thực sự, các khoáng chất cần thiết cho sức khỏe,  xin liên lạc với các anh chị sau: 

          https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif Ở Việt Nam:

1/ Sr. Phạm thị Minh Tâm: Email: [email protected]0906677507
Cơ sở chính: số 200, ấp Thanh Hóa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai,
Cơ sở phụ: 456 Bình Lợi (Nơ Trang Long nối dài) – P.13 – Quận Bình Thạnh
TP Hồ Chí Minh

2/ Anh Mai Đức Dũng: [email protected]
ĐT 092370435301267785314

           https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif Ở Mỹ, Canada và các nước Âu Châu :

Chị Kim Tuyến:
Email:  [email protected]
ĐT:  1-580 763 2733

  Địa chỉ:
Mary Tuyet Le

2416 Oriole Street
Ponca City, OK 74601

   https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif Ở Australia:

1/ Anh Hoàng Minh Hùng: Email: [email protected]0415 652 211

2/Chị Hoàng Minh Hùng (Phương Châu) : Email: [email protected]  –  0421 205 336

3/ Chị Thu Hiền : 0421 501 992

        http://www.australherbs.com.au/

Các trang web mua thảo dược ở Mỹ

1/ http://www.drchristophersherbshop.com/ 66 công thức thảo dược của Dr. Christopher. 

XIN LƯU Ý: Ban điều hành của Dr. Christopher Herb Shop có cho biết là có rất nhiều websites bán các sản phẩm mang nhãn hiệu của Dr. Christopher với giá rẻ, họ không bảo đảm đó là hàng thật. 

Sức khoẻ rất quan trọng, TĐMVSK đề nghị tốt nhất nên chọn mua chính gốc ở Herb Shop của Dr. Christopher. Ban điều hành của Dr. Christopher bảo đảm chất lượng của mọi sản phẩm và công thức của Dr. Christopher được mua từ chính website của họ  http:/www.drchristophersherbshop.com/ : “We guarantee the quality of all of our formulas and products.”

2/ https://www.herbdoc.com/store/  Mua bộ Incurables Program cho tẩy lọc toàn bộ cơ thể, nhất trường hợp các bệnh nan y. Xin đọc hướng dẫn cách dùng bộ Incurables Program bằng tiếng Việt trong quyển “Không có bệnh gì không chữa được”.

3/ http://neemtreefarms.com/ : Mua Neem

4/ Mua dầu dừa:

– Ở các chợ bán thực phẩm hiện có khắp nơi.

–  Dầu dừa không mùi để nấu ăn: Expeller Presssed Coconut Oil, Refined coconut oil

– Dầu dừa loại có mùi thơm Virgin Cold Press Coconut Oil tốt hơn loại Expeller Pressed hay Refined Coconut oil.

Xin nêu tên hai trong những trang web bán dầu dừa cho những ai muốn gởi đến tận nhà:

http://www.wildernessfamilynaturals.com

http://www.tropicaltraditions.com

   Iodine: Nên chọn đúng loại tốt nhất Dr. Sircus đề nghị: Nascent Iodine và Lugol’s Iodine

   Sodium bicarbonate (Baking soda): đề nghị Baking Soda from Bob’s Red Mill

 

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2014/12/SNH.jpg

Công thức Bổ & Lọc Máu của Bác sĩ Christopher

Công thức Bổ-lọc-máu của Dr. Christopher

Dr. Christopher’s Blood Stream Formula

 

     Chúng ta ít khi chú ý tới một dòng máu đang luân chuyển trong cơ thể… cho tới khi bị thương và chứng kiến tận mắt dòng máu quý báu này tuôn chảy ra bên ngoài. Rồi chúng ta rối rít ngăn chặn nó lại, nhận ra màu đỏ của máu và ý thức được rằng chúng ta rất may mắn  khi được thiên nhiên, được Thượng Đế ban tặng cho dòng máu tốt lành đó.

     Cũng như con ngươi trong mắt, hoặc dấu vân tay, máu của mỗi người mỗi khác. Cách thức chúng ta nuôi dưỡng dòng máu của mình sẽ tác động tới sức khỏe và cuộc đời của chúng ta.

     Trong nhiều năm tôi đã được dạy rằng tất cả mọi bệnh đều phát xuất từ dòng máu. Khi tôi còn ở trong quân đội, nhiều quân nhân bị chứng nhọt đinh đã tìm gặp chúng tôi. Thế là tôi làm như một cái máy: trích lể, nặn hết mủ ra, và không quên động viên: “Thế là xong nhá, hết mủ rồi, không còn rắc rối nữa.” Nói là nói vậy thôi, chứ những người lính này thừa biết rằng tôi không muốn nói sự thật.  Bởi vì chỉ mấy hôm sau thôi là đinh nhọt lại tái xuất hiện. Có mấy ai biết cho rằng, tình trạng này là do dòng máu trong cơ thể không được sạch, hoặc do một nguyên nhân nào từ bên trong?  Những tạp chất và chất thải tích lũy trong những cái nhọt đó, là do dòng máu chứa đầy những chất thải và chất nhầy; và nếu chỉ biết cắt lể và nặn mủ ra, thì có nghĩa là chúng ta đang chữa bệnh theo kiểu chữa trên ngọn cho hết triệu chứng, chứ không chữa tận gốc, nghĩa là phải biết tẩy sạch máu.

     Nguyên tắc này cũng áp dụng cho bướu, u nang, viêm ngoài da, ung thư và nhiều chứng tương tự khác. Những vùng trên cơ thể đang bị yếu hoặc bị thương sẽ tích lũy chất thải, bởi vì chúng không đủ sức sống để loại trừ những chất độc hại này, và đây chính là những bằng chứng về bệnh.

     Thay vì chỉ áp dụng những biện pháp bên ngoài, chúng tôi khuyên bệnh nhân áp dụng thêm phần quan trọng nhất của chương trình – và nó sẽ chữa tận gốc, bằng cách tẩy sạch đường ruột, tẩy sạch máu và luôn giữ cơ thể trong một tình trạng ‘vệ sinh sạch sẽ’.  Điều này có thể thực hiện được khi chúng ta theo chế độ ăn-kiêng-không-chất-nhầy. Hãy thực hành tẩy lọc ba ngày mỗi tháng, hoặc thường xuyên hơn và nghiêm túc thực hiện “ăn chay” vào mỗi ngày thứ bảy. Tất nhiên khi ăn chay, bạn chỉ uống nước cất (distilled water), và uống thật nhiều.

     Một trong những điều ưu tiên phải làm là cải thiện hệ thống tuần hoàn bằng cách tẩy sạch các kênh lưu thông của máu, bởi vì trong một thời gian dài, do chế độ ăn uống sai lầm và việc uống loại nước máy, thành động mạch, tĩnh mạch và các mao mạch bị phủ một lớp chất thải vô cơ. Các chất thải này tạo một lớp màng làm cản trở việc nuôi dưỡng các mạch máu. Vì vậy các mô bị xơ vữa, cứng, không còn khả năng đàn hồi như trước. Giống như ống nước cũ kém đàn hồi, chúng sẽ bị giòn và vỡ, hoặc phình ra như trong bệnh giãn tĩnh mạch máu. Ngoài ra việc ăn uống nhiều chất bột, đường tinh chế, khiến bị mất đi chất vôi (calcium) trong mạch máu và khi cơ thể thiếu chất vôi, chúng ta sẽ bị yếu sức và chịu nhiều hậu quả khác.

     Chúng ta có thể nói rằng, nguyên tắc tẩy lọc máu là dùng các dược thảo thay đổi nhau. Những khái niệm về dược thảo cung cấp cho người đọc những nguyên tắc cơ bản về nguồn năng lượng thiết yếu và một cơ thể khỏe mạnh – đạt được bằng sự tẩy lọc phù hợp và một chế độ ăn uống đúng đắn. Có cả hơn một trăm loại thảo dược đặc trị được bào chế tổng hợp để giúp tẩy lọc máu,  tẩy lọc mô và cơ quan bài tiết. Người có kiến thức và biết sử dụng chính xác những nhân tố này sẽ tăng cường khả năng và thành thạo như một chuyên gia thảo dược trong công việc trị bệnh cứu người.  Bác sĩ Nowell cung cấp cho chúng ta những thông tin giá trị liên quan tới những phương thuốc hữu hiệu.

     Loại bỏ những tạp chất ra khỏi dòng máu chỉ là một phần công việc của một thầy thuốc khôn ngoan. Tất cả bệnh tật đều phát nguồn từ tình trạng một hay nhiều cơ quan hoạt động bất bình thường – phổ biến nhất là các cơ quan bài tiết, khi chúng không thể loại trừ các tạp chất ra khỏi dòng máu. Tuy nhiên, đa phần cơ thể chúng ta chứa nhiều tạp chất là do nguồn ẩm thực thiếu trong sạch hoặc không phù hợp, và vì nguồn không khí ô nhiễm. Dù là do nguyên nhân nào chăng nữa, thì phương pháp thanh lọc tối ưu làm hài lòng một thầy thuốc chữa bệnh theo phương pháp tự nhiên, là phải loại trừ gốc gây vấn đề trong cơ thể trong khi làm công việc tẩy lọc máu, và đồng thời làm các cơ quan khỏe mạnh, khiến nó không còn tiết ra những tạp chất hay độc tố đổ vào trong máu nữa.

     Chúng ta biết rằng gan, thận và da là những cơ quan chính giúp cơ thể loại bỏ những tạp chất và chất thải. Nếu gan hoạt động yếu, thì mật sẽ bị ứ đọng, và nó có thể ảnh hưởng tới hoạt động tiêu hóa. Trong trường hợp khác nó sẽ phát độc ra ngoài da. Nếu hai trái thận không chịu bài tiết, dòng máu sẽ bị nhiễm độc. Da có thể sẽ tích tụ những tạp chất đó. Hoặc là, hai lá phổi không thể oxy-hóa để thanh lọc dòng máu được nếu như không khí bị ô nhiễm.

     Thực phẩm, không khí, và các yếu tố quan trọng khác phải được chú ý ngoài việc cho toa thuốc, nếu không dòng máu trong cơ thể chúng ta sẽ không bao giờ được sạch. 

     Chỉ định cho bệnh nhân dùng thảo dược mà không kể tới nguyên nhân đưa tới sự ô nhiễm dòng máu là một sự thiếu khôn ngoan. Một thầy thuốc phải biết luôn luôn tìm những nguồn trợ lực từ thiên nhiên mà cơ thể có thể sử dụng để giúp cho nó được phục hồi những hoạt động bình thường.

     Một bệnh nhân biết thực hiện tốt chương trình Ăn-kiêng-không-chất-nhầy, và thường xuyên thực hiện chương trình Ba-ngày-tẩy-độc và mỗi tuần ăn chay một ngày, là người đang tiến tới thành công và sẽ tìm được một sức khỏe tốt. Ngoài ra, khi bệnh nhân thực hiện tẩy ruột, thì cũng nên thanh lọc máu, như vậy kết quả càng tốt hơn.

     Bác sĩ Shook, thầy dạy của tôi về bộ môn thảo dược, đã viết trong sách giáo khoa của ông:

     Có một loại dược thảo có tác dụng thanh lọc máu tốt nhất, đó là rễ cây ngưu bàng (Burdock). Không cây cỏ nào trong thiên nhiên lại có một giá trị dinh dưỡng và dược tính như cây này. Lịch sử cho thấy nó là một phương thuốc trị liệu rất đáng tin cậy dành cho các chứng máu xấu, ung nhọt, bướu, nhiều bệnh ngoài da, thí dụ như eczema (bệnh chàm hay bệnh sang thấp), bệnh vảy phấn, bệnh vảy nến, nhọt đinh (Boils), Lu-pút (Lupus), mụn trứng cá (Acne), v.v…, chưa kể là nó còn chữa được các chứng bệnh nội khoa như giang mai (syphilis), bệnh tràng nhạc (Scrofula – hạch lao ở cổ), bệnh phong cùi (leprosy), ung thư…, và những bằng chứng hiện tại về sự hữu hiệu tuyệt vời của dược thảo này trong việc chữa trị các chứng bệnh đáng sợ và đáng ghét này, là những bằng chứng hùng hồn nhất nói lên tính ưu việt của loại thảo dược này. Rễ cây ngưu bàng có được khả năng chữa bệnh tuyệt vời, đặc biệt là những tác động đối với hoạt động của hai lá phổi. Rễ cây ngưu bàng rất hữu ích để chữa trị bệnh thiếu sinh tố C, thấp khớp, viêm khớp.

     Chúng có khả năng làm thay đổi tiến trình dinh dưỡng và bài tiết, đồng thời phục hồi hoạt động của những cơ quan suy yếu. Chúng gia tăng việc kéo ra các chất gây viêm tích tụ bằng cách kích thích hoạt động của hệ bạch huyết. Tuy nhiên, đấy chưa phải là tất cả. Sự thanh lọc toàn bộ dòng máu bằng cách làm cho cơ thể tiêu hóa tốt hơn, và loại trừ chất độc hại, đòi hỏi phải duy trì các loại thảo dược thay thế tác động nhẹ nhàng này trong một thời dài nào đó.

     Trong nhiều năm qua, chúng tôi đã sử dụng những liệu pháp thay thế này – kết hợp những dược thảo, chúng có khả năng giúp cho những bệnh nhân ở giai đoạn cuối không còn lối thoát do dòng máu độc gây ra. Chúng tôi cũng đã nhận được những lời cám ơn từ hàng trăm người đã đạt được kết quả chữa bệnh tốt, từ chương trình Ăn-kiêng-không-chất-nhầy và việc sử dụng thảo dược.

     Công thức Bổ & Lọc Máu của Bác sĩ Christopher kết hợp những thảo dược giúp chữa lành bệnh một cách tự nhiên. Ngoài ra chúng cũng hỗ trợ những cơ quan quan trọng như gan, hệ tiết niệu, ruột, tim, phổi, hệ nội tiết…Như vậy công thức không chỉ có tác dụng bổ-lọc-máu không mà thôi, nó còn bao gồm nhóm dược thảo giúp tăng cường sức khỏe tổng quát và tẩy độc toàn thân, bằng cách vừa cung cấp nguồn dinh dưỡng cho các cơ quan, vừa loại trừ các chất độc hại từ lâu đã tích lũy và bám dính vào cơ thể.

      Tham khảo thêm:

Công thức LỌC MÁU – Công thức GIẢM CÂN (tiểu sử BS Christopher 5)

LM Hoàng Minh Thắng và Nhóm Tông Đồ Mục Vụ Sức Khỏe

by Tháng Mười Một 9, 2014 Comments are Disabled Công thức thảo dược, Thảo Dược
Những lợi ích cho sức khỏe của baking soda – Bài 2

Những lợi ích cho sức khỏe của baking soda – Bài 2

 

NHỮNG LỢI ÍCH CHO SỨC KHỎE CỦA BAKING SODA  (2)

DR. MARK SIRCUS

http://drsircus.com/medicine/sodium-bicarbonate-baking-soda

 TĐMVSK xin đăng loạt nhiều bài của bác sĩ Mark Sircus
về lợi ích của Baking Soda cho sức khỏe,
xin mời quý độc gỉa cùng theo dõi.

  1. Baking Soda Uses in Daily Health
  2. Detox Cleanse with Baking Soda
  3. Baking Soda Cancer Studies and pH Medicine
  4. Sodium Bicarbonate Side Effects and Contraindications

 1/Cách sử dụng baking soda hàng ngày cho lợi ích sức khỏe

2/Tẩy độc với baking soda

3/Baking soda và nguồn nước pH kiềm

4/Tác dụng phụ của baking soda và những điều cấm kỵ

*************

 1/Cách sử dụng baking soda hàng ngày cho lợi ích sức khỏe

       Sodium bicarbonate NaHCO3 tiếng thông thường gọi là baking soda là một chất tự nhiên trong dòng máu được cơ thể sử dụng để điều chỉnh độ axít–kiềm pH, để nâng cao axít-kiềm pH, rất quan trọng cho cuộc sống. Baking soda ảnh hưởng đến độ pH của các tế bào và mô, cân bằng điện thế, và gia tăng thán khí CO2 giúp tăng lượng dưỡng khí oxy. Baking soda là công cụ y dược mạnh mẽ mà mọi người nên biết để được hưởng những lợi ích của nó.

       Baking soda c ó thể được sử dụng như đội quân phòng chống đầu tiên cho nhiều loại bệnh như ung thư, cúm, tiểu đường, bệnh thận và ngay cả cảm lạnh. Nó có thể dùng dưới nhiều dạng như thuốc uống, thuốc xịt và cho vào bồn tắm để ngâm. Nó tẩy độc rất mạnh, kể cả chống lại với phóng xạ nữa.

       Mục đích của baking soda là duy trì sự cân bằng độ axít-kiềm pH trong máu, rất cần thiết để duy trì sự sống. Baking soda có thể thay thế nhiều loại thuốc đắt tiền.

       Dr. Cheney chú ý thấy rằng năm 1918 và 1919 xẩy ra trận đại dịch cúm ở Mỹ, những ai mà cơ thể có độ pH là kiềm nhờ baking soda thì thoát được dịch bệnh, những ai bị bệnh dùng baking soda sớm để đạt độ kiềm thì mau khỏi cúm.

Liều lượng:

Việc sử dụng baking soda tương đối dễ dàng và vô hại ngay cả khi bạn không thấy các triệu chứng cảm lạnh thuyên giảm. Chỉ đơn giản hòa tan lượng baking soda đề nghị vào ly nước lạnh và uống. Liều lượng đề nghị cho cảm lạnh và cúm của công ty Arm & Hammer năm 1925 là:

          Ngày 1 : Uống 6 liều cách nhau 2 tiếng. Mỗi lần uống  ½ muỗng cà phê baking soda trong ly nước đầy. (Dùng nước lọc nhiệt độ trong nhà (cool) không đá, không nóng ấm)

          Ngày 2 : Uống 4 liều cách nhau 3 tiếng. Mỗi lần uống  ½ muỗng cà phê baking soda trong ly nước đầy.

          Ngày 3 : Uống 2 liều vào buổi sáng và buổi chiều. Mỗi lần uống  ½ muỗng cà phê baking soda trong ly nước đầy.

          Những ngày tiếp theo : uống 1 liều ½ muỗng cà phê baking soda trong ly nước đầy vào buổi sáng cho tới khi triệu chứng chấm dứt.

 GHI CHÚ:

  • Theo hướng dẫn của Arm & Hammer, không uống vượt qúa 7 liều 1/2 muỗng cà phê một ngày, hay 3 liều 1/2 muỗng cà phê hàng ngày nếu bạn trên 60 tuổi. Ngoài ra không dùng liều tối đa trong hơn hai tuần.
  • Hiệu quả của chất kiềm trong dạ dày sẽ khác nhau tùy theo tình trạng của dạ dày lúc được truyền vào. Lúc nghỉ ngơi ( sau khi thức ăn được tiêu hóa ) baking soda chỉ làm tan chất nhầy và được hấp thụ vào máu như chất bicarbonate, trực tiếp làm tăng độ kiềm.
  • Trong giai đoạn tiêu hóa nó làm giảm sự tiết dịch vị, trung hòa một phần axit clohydric, giải phóng thán khí CO2 như thuốc tống hơi, và được hấp thụ như sodium chloride.
  • Trong trường hợp lên men hoặc ‘ dạ dày chua ‘ nó có thể trung hòa các axit hữu cơ và chữa chứng đầy hơi. Ví dụ: một người bị chứng thừa axit liên tục thì thường 1 hay 2 giờ sau bữa ăn là có nhiều lượng axit dư thừa có hại. Trường hợp này uống 1 liều baking soda 1 giờ trước bữa ăn hay 30 phút sau bữa ăn.
  • Một liều trước khi đi ngủ để chế ngự độ axit sáng hôm sau, hay một liều vào sáng sớm để thanh lọc axit và chất nhầy của bao tử trước khi ăn sáng.   
  • Baking soda cần được hòa tan trong nước mát (không dùng nước nóng hay ấm) trước khi uống.

       Baking soda rất tốt khi sử dụng cho các vấn đề thuộc đường hô hấp, nhiễm độc, viêm thận, nước tiểu nhiều axit, Axit uric tích tụ, bệnh thấp khớp, phỏng, cháy nắng, đau loét, tiểu đường, ung thư, … Thỉnh thoảng uống baking soda trong 3 ngày để gia tăng độ kiềm của máu, sẽ giúp cơ thể gia tăng khả năng chống lại các bệnh truyền nhiễm.

       Magnesium chloride là dạng duy nhất của magnesium đã được báo cáo là tăng sức mạnh hệ miễn nhiễm mặc dù tất cả các dạng  của magnesium đều có lợi ích chung này. Khi thêm magnesium vào trong bồn nước ngâm, hay thoa thêm trên da hay uống thì hiệu quả càng tăng thêm.

        Thêm Iốt, Selenium, Vitamin C và phơi nắng (hay vitamin D) thì chúng ta có đội quân hùng hậu để chống lại các vi khuẩn, vi rút, nấm.

       Sau một ngày làm việc mệt nhọc mà được ngâm mình trong bồn nước nóng có thêm một chén baking soda thì sẽ giúp giảm căng thẳng và làm dịu đau nhức bắp thịt. Nó cũng giúp tẩy tế bào chết và cho làn da tươi sáng trẻ trung. Ngâm chân với baking soda cũng giúp chân đỡ mệt mỏi, đau nhức. Kết hợp baking soda với magnesium chloride sẽ đem lại sự thay đổi nhanh chóng cho sức khỏe và công thức này còn tốt hơn là đi tắm trị liệu bằng nước suối nóng với sodium thiosulfate nữa.

       Khi muối và baking soda được cho vào trong bồn tắm, việc ngâm mình sẽ giúp tẩy độc phóng xạ từ X-quang.

       Muối và baking soda được dùng như thuốc kháng axit dạ dày, chống axit trong toàn hệ thống và kiềm hóa nước tiểu; hòa tan trong nước được dùng để rửa mũi, miệng, âm hộ, nước thụt rửa, và thưốc đắp cho các chỗ phỏng nhẹ.

       Không có gì làm cho bạn thấy thoải mái cho bằng ngâm mình trong bồn tắm có baking soda và magnesium chloride. Việc ngâm mình này là thiên đàng ở trái đất cho những người bị mất ngủ và tê mỏi tay chân. Cũng cùng kết qủa khi được xoa bóp với dầu magnesium.

2/Tẩy độc với baking soda

Trường hợp khẩn cấp khi nhiễm phóng xạ: ngâm mình ngay trong nước baking soda và Magnesium.

Cách điều trị tốt nhất khi bạn ngửi thấy mùi hôi hay nếm thức gì gây khó chịu hay có triệu chứng cúm là ngâm mình trong bồn nước tắm có vài pounds baking soda và muối magnesium, hai lượng này ngang nhau.

Trường hợp cấp cứu, dùng từ 1 đến 5 pounds (450 gr – 2 kg 250 gr) baking soda và 1- 5 pounds (cùng lượng) muối magnesium có trong muối Biển Chết, muối Epsom và magnesium chloride bath flakes (trẻ em dùng lượng ít hơn).

Uống baking soda sẽ giảm thiểu được chất độc của phóng xạ uranium  ở thận. Cũng khử mọi chất độc kim loại nặng và độc chất hóa học của hóa trị. Vì vậy baking soda được các trung tâm chữa trị ung thư tiêm truyền cho bệnh nhân để bảo vệ họ từ những độc chất nguy hại của hóa trị.

Bí quyết để tránh tác hại lâu dài do nhiễm phóng xạ khi bạn ở trong vùng này là khi vừa nghe thấy mùi khó chịu của nó là ngâm mình trong bồn nước baking soda và magnesium ngay.

Độ axít-kiềm pH của chất lỏng trong cơ thể ảnh hưởng đến mọi tế bào. Tình trạng quá axit lâu năm mà không kiểm soát sẽ làm gián đoạn các chức năng và hoạt động của mọi tế bào. Nó chính là gốc của ung thư.

3/Baking soda và nguồn nước pH kiềm

Thiếu oxy dẫn đến nhiễm axit:

       Chất lỏng càng nhiều ion Hydro H+ riêng lẻ thì càng axit.

       Ion hydro+ sẽ giảm đi khi được nối kết với oxy để thành nước có công thức hóa học là H2O.

       Càng có nhiều oxy để oxy kết hợp với ion H+ thành nước H2O thì ion H+ sẽ giảm đi, như vậy chất lỏng sẽ ít axit hơn.

       Tăng cường dồi dào oxy để kết hợp với mọi ion H+ thì sẽ hết axit và có khả năng tăng dần lên độ pH kiềm.

       Điều này có nghĩa là cơ thể càng axit khi càng thiếu oxy trong máu.

       Mỗi tế bào trong cơ thể đều cần oxy cho sự sống và để duy trì sức khỏe tối ưu. Máu có độ pH kiềm nhẹ trong khoảng 7.35 – 7.45. Nước miếng của chúng ta phản ánh độ pH trong cơ thể càng gần với độ pH của máu thì sức khỏe càng dồi dào.

       Như vậy chúng ta hiểu lợi ích của việc hít thở tự nhiên dài chậm sâu là để cơ thể có nhiều dưỡng khí oxy, cũng như baking soda NaHCO3 chứa nhiều oxy và qua sự chuyển đổi hóa học trong cơ thể sẽ giúp đảo ngược tình trạng axit, nâng cao độ pH, đưa cơ thể lên môi trường kiềm nhẹ là môi trường không còn thuận lợi cho các mầm gây bệnh kể cả ung thư sinh sống. Thêm vào đó, khi kết hợp với tẩy lọc và dinh dưỡng thì vi rút, vi khuẩn, nấm, tế bào ung thư sẽ bị bỏ đói, bị chết, kết qủa là bệnh tật được đẩy lui, cơ thể tự chữa lành.

Nhiễm axit mạnh làm mất oxy.

       Jon Barron trình bày một cách nhìn về độ pH để dẫn đến một trong những lợi ích chính của nước kiềm như sau :

       Kết hợp với những gì chúng ta biết về các ion hydro+ và chúng ta thấy rằng máu càng axit (pH nhỏ hơn 7.35-7.45), thì oxy càng ít có sẵn để các tế bào sử dụng. Chúng ta không thảo luận về yếu tố hóa học phức tạp ở đây, mà dùng hình ảnh cụ thể  để dễ hiểu về cơ chế tương tự: một trận mưa axit rơi xuống hồ đã giết hết các sinh vật sinh sống trong đó.

       Cá trong hồ bị ngộp thở đến chết vì chất axit trong hồ đã  “ăn hết” khí oxy có sẵn. Không phải là do oxy chuyển đi nơi nào khác, mà là do oxy bị axit rút hết rồi. Để nhanh chóng đảo ngược tình thế, bạn cần nâng cao độ pH của hồ nước, nghĩa là làm cho nước tăng lên độ kiềm với dồi dào oxy trong hồ và hồ nước có sự sống trở lại.

       Thật là có ích khi chúng ta lưu ý rằng ung thư có liên quan tới môi trường axit là môi trường thiếu oxy: khi độ pH được tăng lên độ kiềm 7.4, nghĩa là trong tế bào có đủ dưỡng khí oxy, thì tế bào ung thư không sống được, phải rút lui.

       Hiểu được điều này thật là quan trọng vì hai lý do: (1) nó cho thấy một trong những lợi ích chính của nước kiềm là nước có dồi dào oxy và (2) nó giải thích lý do tại sao nước kiềm giúp chống lại bệnh ung thư.

       Đại dương, mẹ của tất cả sự sống, có độ pH trung bình khoảng 8.1. Độ pH lý tưởng cho máu nằm ở khoảng 7,4 , hơi kiềm không có tính axit  .

Barron kết luận:

       Nếu bạn ăn uống lành mạnh và có nếp sống tốt, thì bạn cũng muốn uống nước tự nhiên có độ pH trên 7 một chút. Tuy nhiên nếu bạn ăn uống theo kiểu Tây Âu hiện đại, nhiều thịt, gạo, sô đa và đường thì chúng sẽ làm cho cơ thể bạn nhiễm axit, và rồi sẽ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe cho bạn. Độ cân bằng axit-kiềm bây giờ vượt ra xa với mức khỏe mạnh bình thường.  Tôi đề nghị bạn uống nước có pH khoảng 7.5 – 8, tùy theo thực phẩm nhiều ít axit ra sao trong chế độ ăn của bạn.

       Nước từ dãy Hi mã lạp sơn có pH từ 9 tới 11.

       Uống nước có độ pH kiềm lâu dài sẽ đảo ngược một số trường hợp đặc biệt. Nước uống từ vùng núi đem lại sự chữa lành nổi tiếng trên thế giới là nước có độ kiềm cao. Tôi muốn nói đến dòng nước chảy xuống từ núi Hi mã lạp sơn, và đặc biệt nước ở thung lũng Hunza, có độ pH từ 9 đến 11.

        Mỗi thầy thuốc hay từng người cha người mẹ cần hiểu về cách sử dụng baking soda. Sự thiếu bicarbonate trong cơ thể gây nhiều vấn đề cho sức khỏe và càng gia tăng theo tuổi tác. Bạn hãy chú tâm tìm hiểu và sẽ trân quý những gì mà baking soda đem lại cho bạn.  

       Bạn có thể tạo nguồn nước uống kiềm có nhiều chất khoáng cần thiết trong nhà bằng cách cho vào nước cất (distilled water) muối magnesium chloride, nếm cho vừa rồi thêm vào chút baking soda. Bạn dùng giấy thử để đo độ pH của nước.

http://www.ehow.com/how_5008698_test-tap-water-ph.html

http://www.amazon.com/Alkazone-Drops-Water-Color-Chart/dp/B001DRMGQA

 4/Tác dụng phụ và những cấm kỵ của baking soda:

Tất cả mọi thứ cần phải được sử dụng trong mức độ vừa phải,  cân bằng.

-Thông thường baking soda dễ được cơ thể chấp nhận, nhưng những liều cao quá có thể gây nhức đầu, nôn nao hoăc khó chịu. Nếu những triệu chứng này tiếp tục, hãy cho bác sĩ biết. Cho bác sĩ biết nếu bạn có thêm triệu chứng: yếu cơ, phản xạ chậm và nhầm lẫn, sưng chân hay mắt cá chân, phân đen, ói mửa có màu cà phê hoặc những triệu chứng khác.

-Không dùng baking soda nếu bạn đang trong chế độ ăn ít muối trừ phi được bác sĩ hướng dẫn.

-Hỏi ý kiến bác sĩ hay dược sĩ trước khi dùng nếu đang uống thuốc cho toa. Thuốc kháng axit (antaxits) có thể tương tác với một số thuốc cho toa.

-Không cho trẻ em dưới 5 tuổi dùng mà không xem xét kỹ lưỡng.

-Để tránh thương tổn, phải đợi baking soda hoàn toàn tan trong nước mới uống, và rất quan trọng là không uống baking soda khi bao tử đầy thức ăn hay thức uống. Hỏi ý kiến bác sĩ nếu thấy đau bao tử dữ dội sau khi uống baking soda.

-Tác dụng phụ có thể bao gồm sự nhiễm kiềm chuyển hóa, phù nề do muối quá tải, suy tim sung huyết, hội chứng thẩm thấu, chứng tăng natri huyết, và cao huyết áp do tăng muối.

-Những bệnh nhân với chế độ ăn uống giàu canxi hoặc giàu sữa và những sản phẩm từ sữa, thuốc bổ sung canxi, hoặc thuốc kháng axit có chứa canxi như canxi carbonat (ví dụ như Tums), việc sử dụng baking soda có thể gây ra hội chứng sữa kiềm, có thể dẫn đến vôi hóa di căn, sỏi thận và suy thận.

-Trong trường hợp hiếm hoi, nhiễm kiềm chuyển hóa phát triển trong một người đã uống quá nhiều chất kiềm từ nhiều chất chẳng hạn baking soda.

-Trường hợp kiềm hóa nặng ( ví dụ pH của máu > 7.55 ) là vấn đề nghiêm trọng.  Tỷ lệ tử vong đã được báo cáo là 45% ở những bệnh nhân với độ pH máu động mạch 7,55 và 80% khi độ pH lớn hơn 7.65 .

-Uống baking soda với số lượng vượt quá khả năng của thận để bài tiết bicarbonat dư thừa có thể gây nhiễm kiềm chuyển hóa.

-Nhiễm kiềm chuyển hóa là vấn đề rối loạn axit-kiềm gặp thông thường nhất ở những bệnh nhân trong các bệnh viện, chiếm khoảng 50% của tất cả các rối loạn axit-kiềm .

-Nhiễm kiềm chuyển hóa nghiêm trọng gây co thắt động mạch với sự giảm lưu lượng máu vào các mô. Do lưu lượng máu giảm ở não, nhiễm kiềm có thể dẫn đến co cứng, co giật và giảm năng lực trí não. Nhiễm kiềm chuyển hóa cũng làm giảm lưu lượng máu ở mạch vành và rối loạn nhịp tim.

-Nhiễm kiềm chuyển hóa gây giảm thông khí, có thể gây thiếu oxy máu, đặc biệt là ở những bệnh nhân hô hấp kém.

-Nhiễm kiềm giảm nồng độ trong huyết thanh của ion canxi bằng cách gia tăng ion canxi liên kết với albumin. Ngoài ra, nhiễm kiềm chuyển hóa gần như luôn gắn liền với giảm kali máu  (nồng độ kali thấp), có thể gây suy nhược thần kinh cơ và rối loạn nhịp tim, và, bằng cách tăng sự sản xuất amoniac, nó có thể thúc đẩy bệnh não-gan ở những người nhạy cảm.

-Những dấu hiệu vật lý của nhiễm kiềm chuyển hóa không riêng biệt và phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của nhiễm kiềm. Vì nhiễm kiềm chuyển hóa làm giảm nồng độ ion hóa canxi, nên có thể có dấu hiệu giảm calci máu (ví dụ: co cứng, dấu hiệu Chvostek, dấu hiệu Trousseau), thay đổi trạng thái tinh thần, hoặc co giật.

Các triệu chứng của nhiễm kiềm

• Lẫn lộn (có thể tiến đến tê mê hoặc hôn mê )

• Run tay

• Nhức đầu nhẹ

• Co giật cơ bắp

• Buồn nôn, ói mửa

• Tê hoặc như có kiến bò ở mặt hoặc tay chân

• Co thắt cơ kéo dài ( tetany )

Cho bác sĩ biết nếu bạn có : tiền sử bệnh tim, bệnh thận, bệnh gan, huyết áp cao, hoặc bất kỳ loại dị ứng nào. Bởi vì baking soda có chứa một lượng lớn muối, hãy cho bác sĩ biết nếu bạn đang trong chế độ ăn ít muối.  Baking soda nên được sử dụng khi thật cần thiết nếu bạn mang thai. Một lượng nhỏ sodium bicarbonate đã được tìm thấy là trong sữa mẹ. Tlhảo luận về những rủi ro và lợi ích với bác sĩ ngay cả khi bệnh nhân có thể sẽ không hiểu đầy đủ về những lợi ích vì họ chưa bao giờ sử dụng baking soda như là một loại thuốc mang tính hệ thống đối với các bệnh mãn tính như ung thư và tiểu đường.

Cho bác sĩ của bạn biết bất kỳ loại thuốc bán sẵn không cần toa hoặc theo toa mà bạn có thể uống, và hỏi bác sĩ về mối nguy hiểm và tác dụng phụ thông thường của các loại thuốc đó. Thuốc này có khả năng tương tác với nhiều loại thuốc. Không dùng bất kỳ loại thuốc khác trong vòng 1-2 giờ sau khi dùng thuốc kháng axit. Nếu nghi ngờ uống quá liều, hãy liên hệ với trung tâm chống độc hoặc phòng cấp cứu tại địa phương ngay. Người dân Mỹ có thể gọi đường dây nóng về chất độc số 1-800-222-1222,  cư dân Canada nên gọi cho trung tâm kiểm soát chất độc địa phương trực tiếp. Các triệu chứng của quá liều có thể bao gồm khó chịu, cứng cơ, và co giật.

Trước khi dùng baking soda, cho bác sĩ của bạn biết nếu bạn đang dùng:

• Mecamylamine ( Inversine )

• Methenamine ( Mandelamine )

• Ketoconazole ( Nizoral )

• Thuốc kháng axit (Antaxits)

• Thuốc kháng sinh như tetracycline (Sumycin, Achromycin V, và những loại khác), demeclocycline (Declomycin), doxycycline (Vibramycin, Monodox, Doxy, và những loại khác), minocycline (Minocin, Dynacin, và những loại khác) , hoặc oxytetracycline (Terramycin, và những loại khác).

Bạn không thể uống baking soda, hoặc bạn có thể yêu cầu điều chỉnh liều lượng hoặc giám sát đặc biệt trong quá trình điều trị nếu bạn đang dùng bất kỳ loại thuốc nào nêu trên.

Nếu bạn quên uống một liều, hãy uống ngay khi nhớ ; không uống nếu gần đến giờ của liều kế tiếp, bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch trình dùng thuốc thông thường của bạn. Không tăng liều gấp đôi để bù lại. Lưu trữ ở nhiệt độ phòng giữa 59 và 86 độ F (từ 15 đến 30 độ C) xa nguồn nóng, ánh sáng và độ ẩm.

Hãy chắc chắn rằng bạn chỉ uống một lượng nhỏ dung dịch baking soda bất cứ đến giờ uống nào, vì chất kiềm có thể trung hòa đa số hay hầu như là tất cả các axit trong dạ dày, khiến cho dạ dày dễ tạo thêm axit hơn. Điều này có thể gia tăng chứng ợ nóng, sẽ làm bạn uống thêm baking soda và bắt đầu một chu kỳ nguy hiểm.

Axit folic cần thiết để cơ thể sử dụng Vitamin B12. Thuốc kháng axit, bao gồm baking soda, ức chế sự hấp thu axit folic. Những người dùng thuốc kháng axit nên uống bổ sung axit folic.

LM Hoàng Minh Thắng và nhóm Tông Đồ Mục Vụ Sức Khỏe

Công dụng của Thuốc Muối (Baking Soda) Bài 1

 https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/DISCLAIMER.jpg

Nghệ và 20 lợi ích phòng chữa bệnh

Nghệ và 20 lợi ích phòng chữa bệnh

NGHỆ 20 lợi ích –  diễn giải: Đức ông Hoàng Minh Thắng

NGHỆ TIÊU ĐENchứng từ chữa bệnh – diễn giải: Kim Tuyến

(Bấm mũi tên bên trái để nghe – Bấm hàng chữ để lưu về máy)

HẠT TIÊU ĐEN
BLACK PEPPER

Dược tính:
Chất kích thích, thuốc bổ,
làm toát mồ hôi, thuốc tống hơi, gây xung huyết da, cay, gia vị, giải nhiệt.
Đây là chất
kích hoạt tích cực, đặc biệt đối với hệ tiêu hóa ruột-dạ dày. Hạt tiêu có thể dùng để thay thế cho ớt.

Trị liệu:
Dịch tả, đau bụng, gia vị, sốt (định kỳ, liên tục), đầy hơi, lợi, khó tiêu, bệnh thấp khớp (thuốc dán), đau họng (súc miệng).

Thực hành:
Không
nấu sôi hạt tiêu . Khi gặp nhiệt cao, cấu trúc phân tử của tiêu thay đổi rất nhanh chóng từ hữu cơ sang vô cơ, gây kích thích nơi vùng thận, gan túi mật. Vì vậy hãy luôn luôn sử dụng hạt tiêu sống, rắc lên thức ăn. Đa số tiêu bột xay sẵn mua trong các cửa hàng tạp hóa đã chất bảo quản nguy hiểm bổ sung để chống sâu bọ, do đó hãy dùng tiêu hột nguyên và xay hột tiêu mỗi khi dùng.

Liều lượng:
Bột
tiêu: 100 mg. đến 1 gram.

Cách dùng:
– Giúp toát mồ hôi: làm trà tiêu và uống một lượng nhiều, uống nóng. Việc này sẽ làm cho bệnh nhân toát mồ hôi, nếu kết hợp với tắm nước nóng thì càng tốt hơn nữa.
Đau họng: Cho bột tiêu vào ly nước nhỏ rồi súc miệng.

-Thấp khớp: dùng dưới dạng cao dán.

LM Hoàng Minh Thắng và Nhóm TĐMVSK

NGHỆ và SỨC KHỎE

        Nghệ rất thông-dụng ở Việt-Nam. Chúng ta thường dùng nghệ để làm gia-vị cho món chả cá, nấu canh bún bung, hoặc nấu cà-ri. Chúng ta cũng thường dùng nghệ để chữa các vết thương ngoài da cho mau lành. Nghệ còn có rất nhiều công-dụng khác, liên-quan tới sức-khoẻ con người. Sau đây là tóm-tắt những điều nên biết về nghệ, lợi-ích sức khỏe của nghệ, và những kết-quả nghiên-cứu về nghệ trong việc trị-liệu ung-thư, thấp-khớp, Alzheimer, ho và đau cuống họng.

10 Điều nên biết về NGHỆ

1. Nghệ là thành-phần chính trong cà-ry, làm cho thực-phẩm này có màu vàng ánh. 

2. Nó cũng thường được dùng trong tương mù tạt (mustard) và nhiều loại thực-phẩm thông-dụng khác.

3. Ấn-Độ là quốc-gia sản-xuất bột nghệ nhiều nhất thế-giới và cũng là quốc-gia dùng bột nghệ nhiều nhất. 

4. Thành-phố Erode ở tiểu-bang Tamil Nadu là thành-phố sản-xuất bột nghệ nhiều nhất thế-giới. Erode thường được gọi là Thành-phố Mầu Vàng hoặc Thành-phố Nghệ. 

5. Theo phong-tục cổ-truyền ở Ấn-Độ, người ta thường bôi bột-nhồi (paste) bằng nghệ trên mặt và cánh tay cô dâu và chú rể. 

6. Đôi khi đàn-bà Ấn-Độ dùng bột-nhồi bằng nghệ để nhổ bớt lông trên thân-thể.

7. Bác-sĩ Eric Lattman thuộc trường đại-học Aston đã nhận-định nghệ là một dược-thảo thiên-nhiên chống nọc độc (antivenin) của rắn King Cobra.

8. Dân-chúng thời Trung-Cổ gọi nghệ là “khương-hoàng-tố thổ-địa” vì nó thường được dùng như một chất thay-thế rẻ tiền cho khương-hoàng-tố (saffron).

9.  Một muỗng đầy bột nghệ hòa vào nước trong bình giải-nhiệt bằng nước (water-cooled radiator) sẽ ngăn chặn được nước rỉ-chảy.

10.Bột nhồi bằng nghệ là sản-phẩm trong nhà để chữa da bị cháy nắng và nó cũng là một thành-phần trong các kem thương-mại chống nắng.

20 Lợi-Ích Sức-Khỏe của NGHỆ

       Dược-tố chính của nghệ là chất curcumin. Nghệ đã được dùng trên 2500 năm tại Ấn-Độ. Ở đó nghệ được dùng nhiều nhất để làm thuốc nhuộm.

       Những dược-tính của gia-vị này được bộc-lộ dần qua nhiều thế-kỷ. Ngoài đặc-tính chống kích-thích được biết tới từ lâu, các nghiên-cứu mới đây cho thấy nghệ là một dược-thảo thiên-nhiên kỳ-diệu, có nhiều công-dụng trị-liệu các trường-hợp sức-khỏe khác nhau, từ bệnh ung-thư tới bệnh mất trí nhớ Alzheimer. Sau đây là 20 lợi-ích sức-khỏe của nghệ:

1. Nó là một chất sát-trùng và kháng vi-khuẩn tự-nhiên, có lợi-ích trong việc tẩy-độc các vết thương và phỏng. 

2. Khi dùng chung với bông cải, nó có thể ngăn-ngừa ung-thư nhiếp-hộ-tuyến và ngăn-chặn sự trưởng-thành của ung-thư nhiếp-hộ-tuyến hiện-hữu.

3. Nó ngăn-chặn sự lan rộng ở phổi của ung-thư vú trong các con chuột.

4. Nó có thể ngăn chặn ung-thư da (melanoma) và làm cho các tế-bào ung-thư hiện-hữu tự hủy-diệt. 

5. Nó làm giảm nguy-cơ bệnh hoại-huyết (leukemia) ở trẻ nhỏ.

6. Nó là chất tẩy-độc gan tự-nhiên.

7. Nó có thể ngăn-chặn và làm giảm sự tiến-hóa của bệnh Alzheimer bằng cách hủy-diệt các tấm amyloyd tích-tụ trong não.

8. Nó có thể ngăn-chặn sự chuyển-hoá xuất-hiện trong nhiều hình-thái ung-thư khác nhau.

9. Nó là một dược-phẩm mạnh, thiên-nhiên, chống kích-thích hữu-hiệu như nhiều dược-phẩm khác nhưng không có phản-ứng phụ.

10. Nó có triển-vọng làm chậm sự tiến-hóa của bệnh đa xơ cứng (multiple sclerosis) trong các con chuột.

11. Nó là một chất giảm đau tự-nhiên và là chất ngăn-chặn cox-2.

12. Nó có thể giúp sự chuyển-hoá chất béo và trợ-giúp sự quản-trị sức nặng cơ-thể.

13. Được dùng trong y-khoa Trung-Hoa từ lâu để trị-liệu bệnh trầm-cảm. 

14. Vì các tính-chất chống kích-thich, nó là dược-phẩm tự-nhiên để trị-liệu bệnh sưng khớp  và thấp-khớp.

15. Nó tăng-cường hiệu-quả của thuốc hóa-trị paclitaxel và làm giảm các phản-ứng phụ của thuốc này.

16. Có nhiều tiến-triển đáng ghi-nhận về hiệu-quả của nghệ trên ung-thư tụy-tạng. 

17. Nhiều công-trình nghiên-cứu đang tiến-hành về các hiệu-quả trị-liệu tốt của nghệ trên các u tủy (multiple myeloma).

18. Đã kiểm-nhận được hiệu-quả của nghệ làm ngưng sự phát-triển các mạch máu mới trong các bướu.

19. Chữa lành các vết thương nhanh chóng và trợ-giúp việc tái-tạo làn da bị hư.

20. Nó có thể giúp trị-liệu bệnh vẩy nến (psoriasis) và các trường-hợp phỏng da khác.

       Một khi bạn bắt-đầu quen dùng nghệ hàng ngày, bạn sẽ thấy vui khi tìm được các phương-cách mới để dùng nó trong các thực-đơn. Tôi hay rắc một ít bột nghệ vào món salad trứng. Nó cho thêm mùi-vị thơm ngon và làm cho salad trứng có màu sắc vàng tươi.

Chúng ta dùng Củ NGHỆ tươi như thế nào

       Nhiều người hay dùng bột nghệ nhưng bạn cũng có thể dùng củ nghệ tươi trong các thực-đơn và trong các liệu-pháp chữa bệnh. Khi dùng củ nghệ tươi, bạn nên nhớ nó có thể làm bẩn quần áo … thật tai hại. Bạn nên dùng găng tay và cẩn-thận đừng để nó dây vào bất cứ vật gì dễ bị nhuộm màu như mặt bàn hoặc quần áo màu trắng. 

       Bạn nên gọt vỏ ngoài trước khi dùng nó. Cách giản-dị nhất là cạo nó bằng cạnh muỗng, hoặc dùng dao bào. Sau đây là cách dùng củ nghệ tươi:

Nghiền nát

       Cắt củ nghệ thành nhiều miếng nhỏ và bỏ vào máy xay cà-phê. Miếng càng nhỏ thì xay càng dễ. Nên cho vài giọt nước vào nếu khó xay.

Bào nhỏ

       Bào củ nghệ rất tiện cho các thực-đơn có cơm và sẽ cho đĩa cơm một màu sắc đẹp. Nên áp-dụng sáng-kiến vào việc dùng nghệ bào – dùng nó trong các món hầm, canh, thit xay, hoặc chiên xào.

Bằm nhỏ

       Bạn có thể bằm nhỏ củ nghệ để cho vào chảo, hoặc salad, hoặc vào một món chiên-xào.

Ép nước

       Củ nghệ tươi có thể được ép ra nước, tương-tự như nước gừng. Dùng nước ép nghệ trong soup, dầu trộn salad và nước sauce, hoặc dùng nó trong các nước sinh-tố. 

Muối chua

       Bạn có thể muối chua củ nghệ tươi. Người ta thường dùng nước chanh và muối làm nguyên-liệu.

Các phản-ứng-phụ của NGHỆ

       Nghệ có nhiều lợi-ích sức-khỏe, nhưng các phản-ứng-phụ của nó thì sao?

       Tổng-quát, nghệ được coi như an-toàn dù ở liều-lượng cao. Tuy-nhiên, nghệ cũng có vài điều kiêng-cữ. 

       Phải cần-thận khi dùng nó với những người bị sạn mật (gallstones), loét bao-tử, hoặc bị bế-tắc đường mật, vì nghệ có thể làm cho bệnh-tình trầm-trọng thêm.

       Nghệ có thể kích-thích đường tiểu, vì vậy đàn-bà có thai nên tham-khảo với bác-si trước khi dùng nó trong thời-gian mang thai.

       Những người bị viêm gan nặng hoặc bệnh tim, cũng nên tham-khảo bác-sĩ trước khi dùng nghệ làm thuốc bổ-sung.

Nghệ và Tiêu Đen trị-liệu Ung-Thư

       Khi nghệ và tiêu đen (piperine) được dùng chung, chúng làm thành một dược-phẩm chống ung-thư rất mạnh. Nhiều chương-trình nghiên-cứu đã tìm thấy một dược-chất trong tiêu đen gọi là piperine làm cho khả-năng chống ung-thư của chất curcumin trong nghệ tăng hoạt-tính lên tới trên 1.000 lần. Điều này rất quan-trọng vì nếu dùng riêng, hoat-tính của nghệ tương-đối thấp.

       Trong một cuộc nghiên-cứu tại Trung-Tâm Comprehensive Cancer thuộc trường đại-học Michigan, phổ-biến trên báo Breast Cancer Research and Treatment, các chuyên-viên nghiên-cứu đã tìm thấy là curcumin và piperine, khi tổng-hợp, đã có thể chống lại các tế-báo ung-thư gốc, là những tế-bào nguyên-thủy trong một bướu mà bướu lớn hơn bắt nguồn từ đó. Các chuyên-viên nghiên-cứu đang hoạch-định giai-đoạn I cho một cuộc thử-nghiệm y-học để tìm hiểu liều-lượng curcumin và piperine cần-thiết.

       Hãy cho thêm cả tiêu đen lẫn nghệ vào thức ăn để ngăn-ngừa ung-thư và thêm lợi-ích chữa-trị. Hoặc, nếu bạn đang dùng nghệ như một thuốc bổ-sung (supplement), bạn có thể ăn một bữa cơm có tiêu đen làm gia-vị và uống các viên nghệ trong bữa cơm. Hiện nay ở các chợ bán thực-phẩm cũng có bán thuốc bổ-sung có cả hai chất curcumin và piperine.

Nghệ trị-liệu Thấp-Khớp

       Nghệ là một dược-phẩm thiên-nhiên chống kích-thích và đã được dùng hàng thế-kỷ trong y-khoa truyền-thống Ấn-độ Ayurvedic để chữa bệnh thấp-khớp.

       Để thẩm-định khả-năng trị-liệu đã lưu-truyền từ lâu, một cuộc khảo-nghiệm vào năm 2006 tại trường đại-học y-khoa UA đã cho thấy nghệ quả thực có khả-năng chống sưng khớp. Chất-liệu dùng trong cuộc khảo-nghiệm, tương-tự như thuốc nghệ bổ-sung thông-thường, đã hoàn-toàn chặn đứng bệnh thấp-khớp trong sinh-vật dùng làm thí-nghiệm. Cuộc khảo-nghiệm này đáng kể vì nó là cuộc khảo-nghiệm đầu-tiên dành riêng để nghiên-cứu khà-năng chống sưng khớp của dược-chất chứa đựng curcumin trong cơ-thể sinh-vật.

       Nhiều cuộc khảo-cứu khác cũng đang được thực-hiện để xác-định hiệu-quả của nghệ trên bệnh thấp-khớp.

Nghệ và bệnh Alzheimer

       Nhiều cuộc khảo-cứu đã được thực-hiện để xác-định hiệu-quả của nghệ trên bệnh Alzheimer và các kết-quả thâu-thập được rất khả-quan. Đa-số các cuộc khảo-cứu đều tập-trung vào curcumin, một dược-chất rất sinh-động trong củ nghệ. 

Tỷ-lệ Alzheimer thấp tại Ấn-Độ

       Tại Ấn-Độ, nơi mà nghệ được tiêu-thụ hàng ngày, có tỷ-lệ Alzheimer rất thấp. Chỉ có 1% người Ấn trên 65 tuổi có triệu-chứng Alzheimer trong khi tỷ-lệ này rất cao tại Hoa-Kỳ và tại các quốc-gia khác.

Các cuộc khảo-cứu trên Chuột

       Các cuộc khảo-cứu trên chuột cho thấy chất curcumin có thể làm chậm sự tiến-hóa của bệnh Alzheimer bằng cách ngăn-chặn sự phá-hoại màng-bọc myelin che-chở các giây thần-kinh trong cơ-thể.

Ngăn-chặn sự hình-thành mảnh Amyloid

       Các nhà khảo-cứu đã nhận thấy curcumin ngăn-chặn được sự hình-thành mảnh amyloid và làm tan các sợi amyloid có hiệu-quả hơn các dược-phẩm chống kích-thích khác. Họ cũng nhận thấy chất curcumin đi qua mạng giới-hạn huyết-não và ngăn-chặn các mảnh amyloid dính vào nhau để tạo thành các tấm.

Bình-thường-hóa mức-độ Macrophage

       Một cuộc khảo-cứu tìm thấy một hoạt-tố trong củ nghệ gọi là bisdemethoxycurcumin làm bình-thường-hóa mức-độ macrophage trong các bệnh-nhân mắc bệnh Alzheimer. Trong các người mạnh-khỏe, macrophages hủy-diệt các tế-bào bất-bình-thường trong cơ-thể và trong não, những mức-độ macrophage trong các bệnh-nhân Alzheimer lại quá thấp để loại bỏ các mảnh amyloid. 

       Với nhiều cuộc khảo-cứu đang tiến-hành và những cuộc kiểm-nhận trên cơ-thế con người, hy-vọng là các nhà khảo-cứu sẽ có thể tìm được một liệu-pháp trị-liệu cho các bệnh-nhân Alzheimer dựa trên các thành-quả đã đạt được với củ nghệ.

       Nếu bạn có những ưu-tư về bệnh Alzheimer hoặc chỉ muốn hưởng những lợi-ích sức-khoẻ của dược-thảo kỳ-diệu này, bạn có thể mua thuốc nghệ bố-sung có chất curcumin. Hoặc, hãy làm giống như mọi người thường làm ở Ấn-Độ là cho thêm bột nghệ vào thức-ăn của bạn.

       Có nhiều cách dùng nghệ, chẳng-hạn bạn có thể cho một chút bột nghệ vào salad trứng, hoặc uống sữa nghệ trước khi đi ngủ.

Sữa Nghệ tri-liệu Ho và Đau Cuống Họng

       Sữa nghệ là một dược-liệu cổ-truyền nhưng vẫn thông-dụng trong y-khoa Ayurvedic để trị-liệu ho, đau cuống họng và cảm lạnh. 

       Những lợi-ích sức-khỏe của nghệ và gừng được tổng-hợp với đặc-tính làm dễ ngủ của sữa đã làm cho công-thức này trở-thành thực-sự là một dược-liệu tại-gia để chữa lành cơ-thể và làm mát-mẻ tâm-hồn. 

        Sữa nghệ là một dược-liệu cổ-truyền nhưng vẫn thông-dụng trong y-khoa Ayurvedic để trị-liệu ho, đau cuống họng và cảm lạnh.       

Những lợi-ích sức-khỏe của nghệ và gừng với đặc-tính giúp ngủ ngon đã làm cho công-thức sữa nghệ trở-thành phương-thuốc dân-gian để chữa lành cơ-thể và làm tươi-mát tâm-hồn. 

        Đừng quên hột tiêu đen trong công-thức. Các kết-quả nghiên-cứu đã tìm thấy tiêu đen làm tăng hoạt-tính của nghệ và giúp nó chữa lành cơ-thể. Thật vậy, một cuộc khảo-cứu cho biết là nghệ và tiêu đen đã hủy-diệt các tế-bào ung-thư vú khí được dùng chung với nhau.

Chất-liệu:

2 ly sữa hữu-cơ

1 muỗng nhỏ bột nghệ

1/4 muỗng nhỏ bột gừng

4 hột tiêu đen, nghiền vụn

một chút quế (tùy-nghi)

mật ong, hoặc chất làm ngọt khác (tùy-nghi)

Cách làm:

       Cho tất cả vào nồi, để lửa trung-bình cho tới khi sôi. Để lửa nhỏ trong 5 phút, quay luôn tay. Cho mật ong hoặc erythritol (thuốc có tác động giảm áp huyết nhẹ và làm giãn mạch máu) vào cho đủ ngọt. Đổ ra ly và uống khi còn nóng.

       Nước uống này rất tốt cho những buổi chiều mùa đông trước khi đi ngủ !

Chia sẻ kinh nghiệm chữa lành bằng nghệ và dầu dừa trích trong trang www.earthclinic.com 

       29/12/2012: Cô Zeena ở thành phố Hollister, California viết: Tôi bị Crohn’s disease, là một bệnh viêm đường ruột-dạ dày mãn tính gây đau bụng, tiêu chảy, sốt, nôn mửa, biếng ăn và giảm cân. Sau khi đọc một chia sẻ kinh nghiệm dùng nghệ, là nghệ hấp thụ vào trong cơ thể tốt hơn / khi dùng chung với chất béo. Thực sự tôi đã uống viên nghệ mua ở ngoài thị trường, nhưng không đạt kết quả nào. Thế nên tôi tự làm viên nghệ như sau: ra chợ  bán thực phẩm hữu cơ mua bột nghệ và dầu dừa tinh khiết. Tôi đặt nồi in-nox lên bếp, làm nóng nồi đủ để dầu dừa chảy lỏng ra rồi tắt bếp. Tôi cho vài muỗng lớn dầu dừa vào nồi, cho tiếp vài muỗng bột nghệ vào / rồi trộn thật đều. Sau đó tôi dùng bột nghệ này để làm viên nghệ (viên cỡ số “0”) và cất trong tủ lạnh.  Tôi uống 6 viên một ngày và thấy khỏe. Nó giúp tôi khỏi chứng đau bụng mãn tính, đồng thời tăng cường sức khỏe tổng quát. 

       Một hôm chồng tôi đi tiểu ra máu. Đi bác sĩ và qua hình chụp CT Scan thấy có một đốm đáng ngại ở bàng quang. Chúng tôi yêu cầu được chuyển đến bệnh viện lớn ở Standford để chữa trị tiếp. Trong khi chờ đợi lần hẹn gặp bác sĩ một tháng sau, tôi cho anh uống gấp đôi liều lượng tôi uống là 12 viên nghệ một ngày. Tới kỳ hẹn làm xét nghiệm ở Stanford, bác sĩ đã không còn thấy vết đốm ở bàng quang, cũng không còn máu trong nước tiểu nữa.  Đúng là nghệ và dầu dừa đã làm nên chuyện kỳ diệu này.

LM Hoàng Minh Thắng và Nhóm TĐMVSK

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/DISCLAIMER.jpg

u_1205_9ee54637

by Tháng Bảy 24, 2013 Comments are Disabled Thảo Dược, Thực phẩm chức năng
Trà lọc máu Jason Winters giúp cơ thể tự chữa lành

Trà lọc máu Jason Winters giúp cơ thể tự chữa lành

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/11/jason-winters-tea.jpg

 TRÀ LỌC MÁU JASON WINTERS

TĂNG CƯỜNG HỆ MIỄN NHIỄM

GIÚP CƠ THỂ TỰ CHỮA LÀNH

http://sirjasonwinters.com/testimonials.htm

 

Name: Paul Macomber

Date: 10/26/2011

      https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif Hai vợ chồng em trai tôi có người bạn bị bướu ở não không thể giải phẫu được cách này 7 năm. Chị đã đi nhiều bác sĩ và bệnh viện nổi tiếng ở New England, trải qua hóa trị, v,v. và cuối cùng được cho biết là không còn hy vọng gì nữa. Bác sĩ cho chị về nhà và chị chỉ còn chưa đầy một năm sống nữa mà thôi. Chị khoảng tuổi 40, có chồng và hai con. Hai em tôi gởi chị trà Jason Winters đủ uống trong 6 tháng. Sau khi uống được vài tháng, chị thấy khỏe hơn, trở lại bác sĩ khám. Bướu đã giảm phân nửa. Họ không thể ngờ được. Vài tháng sau bác sĩ khám lại thấy bướu đã hoàn toàn biến mất. Bây giờ chị vẫn sống khỏe mạnh.

 

2000 – 2007

Name: Linda Doyle

Location: Lakeland, TN

Date: Tuesday, February 24, 2009 3:39 AM

        https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif15 năm trước, dì tôi được chẩn đoán bị ung thư xương và chỉ còn 6 tháng để sống. Dì được chẩn bệnh tại Anderson Cancer Clinic ở Houston. Ung thư đã lan đến hông và chân. Dì về nhà bắt đầu uống một lít trà Jason Winters mỗi ngày. 60 ngày sau, khi trở lại bệnh biện để khám theo dõi, thì đã hết ung thư. Bác sĩ bảo dì cứ tiếp tục những gì đang làm. Dì tôi đã không có bất cứ dấu hiệu ung thư gì bao giờ nữa.

 

Name = Susan Pollard

Location = Idaho

Wednesday, January 21, 2009 4:18 PM

        https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifTôi bị liệt hai chân và phải ngồi xe lăn trong 30 năm do tại nạn xe hơi làm chấn thương tủy sống hồi 17 tuổi. Tôi bị nhiễm trùng đường tiểu mãn tính trong 8 năm. Từ khi bắt đầu uống trà Jason Winter’s Classic Blend Herbal Tea, tôi không còn bị nhiễm trùng nữa. Gần đây tôi phát triển một bệnh gọi là Autonomic Dysreflexia, là loại thường gặp của tổn thương tủy sống. Các triệu chứng của nó rất là đáng sợ. Nhức đầu, chóng mặt, đổ mồ hôi, khó thở, dễ ngất xỉu, cao máu, tức ngực, nhịp mạch yếu, không đều. Có cảm giác như là sắp chết. Khi tôi bị các triệu chứng này, tôi uống trà và cảm thấy nhẹ nhàng, các triệu chứng biến mất. Cám ơn thật nhiều!

 

Name: Ramona Ellen King Locati

on: Kansas City, Missouri

Date: Monday, December 8, 2008, 8:04 PM

      https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gif17 năm trước đây, lúc đó 39 tuổi, tôi bị ung thư vòm họng. Tôi không hút thuốc và không uống rượu đã 13 năm trước khi bị ung thư. Thật là sốc và kinh hoàng khi nghe bác sĩ cho tin. Vài ngày sau tôi đến một tiệm thực phẩm dinh dưỡng, một quyển sách rơi xuống chân tôi, đó là quyển Jason Winters’ Killing Cancer. Tôi bắt đầu uống trà Jason Winters. Tôi vẫn sống khỏe đến nay nhờ chính yếu vào trà Jason Winters (là loại trà duy nhất có sẵn lúc bấy giờ). Cám ơn nhiều.

Georgina Bruni
Editor in Chief
Hot Gossip UK
www.hotgossip.co.uk
[email protected]

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifTháng 5/2000

       Jason Winter, người Mỹ gốc Anh, 25 năm trước được bác sĩ chẩn đoán là bị ung thư giai đoạn cuối và cho về nhà chờ chết. Tuyệt vọng vì chỉ còn sống được hai tháng nữa, ông làm một điều mà nhiều người trong tình trạng như ông đã làm, đó là hướng tới niềm tin tôn giáo. Trong khi đọc các sách tôn giáo, ông khám phá rằng Kinh Thánh đã nhắc tới việc “dùng thảo mộc như thuốc” đến 27 lần. Nôn nao muốn biết thảo mộc gì, ông liên lạc với Đức Tổng Giám Mục Canterbury, người cho Winter biết rất có thể đó là cỏ ba lá (red clover), cỏ này đã được dùng hàng nhiều thế kỷ để lọc máu. Ông cũng đọc thấy rằng Đức Phật dạy herbalene có thể giúp tan bướu, và ông ngạc nhiên khi biết rằng bệnh ung thư đã được biết đến từ 2500 năm trước. Ông cũng đã biết dược thảo chaparral được người Mỹ da đỏ dùng để lọc máu. Trong những ngày cuối cùng ông quyết định thử dùng những dược thảo vốn đã được dùng từ thời cổ xưa này để tự cứu mình.

        Với sự ủng hộ giúp đỡ của hai con trai, ông gắng đi Singapore để tìm herbalene. Ông pha trà và uống rất nhiều, nhưng dường như nó không giúp được gì. Từ Singapore ông qua London để tìm cỏ ba lá (red clover), nhưng lại phải thất vọng thêm lần nữa. Ông trở về vùng sa mạc Arizona để tìm nguồn thảo dược cuối cùng là chaparral, nhưng cũng không thấy có gì khác lạ cả.

        Tuy nhiên ông vẫn không bỏ cuộc, vẫn tiếp tục pha trà từng thảo dược để uống, tuy không khá hơn, song ông thấy cũng không xấu đi. Một hôm, ông thấy mệt qúa không thể rửa sạch và pha riêng từng loại trà, ông cho tất cả vào ấm chung với nhau, và … phép lạ xẩy ra.

        Ngay lập tức khi uống trà tổng hợp này, ông thấy nguồn sống tuôn tràn trong cơ thể. Trong vài tuần, ông uống mỗi ngày 4 lít trà tổng hợp. Trong vòng 9 tuần, bướu ác tính biến mất hoàn toàn. Toàn thể bác sĩ, y tá ở bệnh viện nơi ông điều trị. đều kinh ngạc trước sự phục hồi nhanh chóng này.

        Tin tức về việc ông hồi phục nhanh chóng bất ngờ đã được các cơ quan truyền thông địa phương c loan đi. Hàng trăm người sắp hàng trước cửa nhà ông để tìm hiểu thêm về những thảo dược này. Jason nhận ra ông không thể làm những người bệnh đáng thương này thất vọng, nên bắt đầu mua thảo dược để cung cấp cho nhu cầu của họ. Nhưng chính phủ Canada có luật cấm nhập cảng một số thảo dược trong đó có chaparral. Nhà ông bị lục soát, và tất cả dược thảo bị tịch thu. Tình trạng tài chánh trở nên bấp bênh sau khi ông đã tiêu hết tiền dành dụm được để mua thảo dược. Nhưng rất may là có một nhóm người đã hưởng được những lợi ích của trà tổng hợp, đã giúp Jason một chỗ ở đảo Paradise tại Bahamas, nơi ông có thể nhập cảng các loại dược thảo để chế ra loại trà đặc biệt này của ông.

        Ngày 5/8/1978 bác sĩ Ian Pierce, một bác sĩ chuyên khoa ung thư người Scotland, viết một bản báo cáo về các thảo dược của Jason và việc phục hồi của ông cho Hiệp hội Y khoa Anh. Bác sĩ Pierce giải thích rằng ông đã cho thử nghiệm các thảo dược này và thấy răng chúng an toàn và không gây phản ứng phụ. Bs nhấn mạnh rằng các thảo dược này không chữa trị, nhưng lọc máu ở mức độ cao đến, giúp tăng cường hệ miễn nhiễm, và từ đó bắt đầu hoạt động giúp cơ thể tự chữa lành. Thái tử Charles, hoàng gia Anh, là người sử dụng thuốc thay thế, nói với Jason: “Hãy đi vào lòng thế giới và trở nên sứ giả đem lại bình an.”

        https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/post.gifHai tháng trước, Terry, anh vợ tôi được chẩn đoán bị ung thư gan và đại tràng. Các bác sĩ cho anh về nhà. Tôi mua trà Jason Winters và khuyên anh uống 6 ly một ngày. Trong vòng một tuần, ống thông với ruột gìa lỏng ra, bác sĩ cho rằng do khối u có thể nhỏ đi. Vài ngày sau, ống rớt ra ngoài. Trong vòng 3 tuần Terry lên được 4 kg và thấy khỏe khoắn hơn. Anh ra ngoài với gia đình vui hưởng niềm vui của cuộc sống trở lại. Đến tuần thứ bẩy, Terry vẫn uống trà và khá hẳn lên. Bác sĩ bảo anh rất có hy vọng. Vài ngày sau, Terry có cảm giác khối u ở đại tràng đã ra khỏi cơ thể anh! Tất cả chúng tôi  đều lạc quan và hy vọng anh tiếp tục uống trà để được phục hồi hoàn toàn.

        Terry cũng đi hóa trị (chemotherapy). Tuy nhiên anh chỉ qua một đợt khi bắt đầu uống trà thôi, sau mỗi lần hóa trị anh cảm thấy kinh khủng. Anh vẫn chưa xong các đợt hóa trị, nhưng bây giờ nó không làm anh khó chịu nữa vì sau mỗi lần hóa trị, anh ăn một muỗng đầy mật ong tinh khiết (theo kinh nghiệm của Jason).

        Sir Jason Winters, ở tuổi 69 (năm 2000) khỏe mạnh, đẹp lão và linh hoạt. Hiện ông đang sống với người vợ và hai con trai ở Phi luật tân. Ông có tất cả chín người con.

        Giới thiệu cho quý vị đọc câu chuyện của Jason Winters trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư là một nguồn khính lệ cho tất cả mọi người. Sách “Diệt trừ ung thư – Killing Cancer” có thể được đặt mua từ trang web: www.sirjasonwinters.com

        Bạn cũng có thể mua trà, và các sản phẩm tuyệt vời khác từ trang web trên.

        T có sẵn ở Anh £6,95 một hộp 30 gói từ Revital, có dịch vụ đặt hàng gởi qua bưu điện: gọi 0800 252 875 hoặc đến cửa hàng ở London tại High Road 35, Willesden, NW10 hoặc 3a Colonnades, Buckingham Palace Rd, SW1 .

        Bạn không nên đợi tới lúc đau bệnh mới uống trà. Trên thực tế, cơ thể chúng ta đã bị đã ô nhiễm nhiều, nên tất cả chúng ta cần lọc máu. Uống 2-3 ly mỗi ngày sẽ cảm thấy tuyệt vời! Một gói trà có thể pha được 2 ly.

Linh Mục Hoàng Minh Thắng và Nhóm Tông Đồ Mục Vụ Sức Khỏe

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/12/DISCLAIMER.jpg

LÁ NEEM và CÁC BỆNH QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC

LÁ NEEM và CÁC BỆNH QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC

  https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/10/L%C3%81-NEEM.jpg

 1.BỆNH AIDS

2.BỆNH LẬU (GONORRHEA)

3.BỆNH GIANG MAI (SYPHILIS)

4.CHLAMYDIA

5.HERPES SINH DỤC (GENITAL HERPES : HSV2)

6.MỤN Ở ÂM ĐẠO (GENITAL/VAGINAL WARTS)

7.BỆNH NẤM CANDIDA (CANDIDIASIS)

8.NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU (URINARY TRACT INFECTION)

*****

CÁC BỆNH QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC
(SEXUALLY TRANSMITTED DISEASES)

       Phương cách cổ truyền dùng neem để chữa các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Bệnh lậu, giang mai và nhiễm trùng âm đạo được điều trị với thuốc sắc lá neem và thoa dầu neem. Đàn ông uống trà neem và tắm trong nước nấu với lá neem. Phụ nữ uống trà neem và rửa với trà lá neem đậm. Cả hai phái thoa dầu neem vào vùng bệnh.

       Nghiên cứu chứng minh rằng dầu neem dùng như chất bôi trơn âm đạo thỉ hữu hiệu trong việc ngăn chặn các sinh vật như Trichomonas, Candida, và Giardinella vaginalis gây nhiễm nấm âm đạo.

       Những nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy neem hữu hiệu trong việc chống lại những vi khuẩn gây ra bệnh llậu và giang mai.

1.BỆNH AIDS

       Neem có đặc tính tăng cường hệ miễn nhiễm cho cả hệ bạch huyết và đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Khi bạch huyết cầu bị nhiễm HIV được nuôi cấy với chiết xuất từ neem, sản xuất các protein của virut giảm đáng kể. Tiến sĩ Upadhyay và tiến sĩ Berre’-Sinousi (một trong những khoa học gia đã tìm ra virut gây bệnh AIDS) tin rằng những chiết xuất từ neem ngăn chặn sự sản xuất protein của virut, vì vậy ngăn chặn sự sao chép của virut.

       Những nghiên cứu về ảnh hưởng của vỏ cây neem và lá neem chiết xuất chứng tỏ chúng giảm protein của virut P-24 và sản xuất protein kháng thể IL-1. Viện Y Tế Quốc Gia, trong nghiên cứu sơ bộ, báo cáo những kết quả đáng khích lệ từ các xét ngiệm trong ống nghiệm rằng chiết xuất từ vỏ cây neem diệt virut AIDS. Ngoài ra neem còn có khả năng tăng cường khả năng đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào đối với nhiễm trùng.

       Dùng chiết xuất bằng cách ngâm vỏ cây neem trong nước, tiến sĩ Van Der Nat (Hòa Lan) xác định rằng chiết xuất gây ra phản ứng miễn dịch mạnh. Chiết xuất từ vỏ cây neem kích thích chức năng của tế bào bạch huyết làm gia tăng sự sản xuất MIF, bạch huyết gắn với đại thực bào (tiêu diệt quân ngoại xâm) và bạch cầu đơn nhân to (có nhiệm vụ phòng vệ).

HIV/AIDS

       Được tin tưởng là đứng đầu trong danh sách phòng vệ chống nhiễm AIDS, khả năng của neem là gia tăng cục bộ sự đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào  giúp ngăn ngừa bệnh nếu dầu neem được dùng như chất bôi trơn trước khi giao hợp. Nếu thậm chí  chỉ thành công một phần trong việc ngừa lây truyền bệnh AIDS, cho đến khi các khoa học gia tìm ra cách chữa trị, dầu neem bôi trơn có thể cứu vô số cuộc sống con người.

       AIDS là một bệnh có thể phòng ngừa. Cách phòng ngừa hiển nhiên nhất là sống độc thân, nhưng đó không phải là chọn lựa thực tế cho hầu hết những người trưởng thành. Dùng bao cao su giảm nhiều cơ hội nhiễm bệnh. Dùng dầu neem làm chất bôi trơn trước quan hệ tình dục có khả năng chống bệnh và giảm đau, giảm viêm, giảm việc mở đường cho virut HIV vào cơ thể. Nếu trường hợp xấu xảy ra, AIDS có thể được điều trị bằng cách uống cồn lá neem, ăn nguyên lá hay uống trà lá neem, trà vỏ cây neem. Những triệu chứng phức tạp khác có liên quan đến AIDS cũng có thể được điều trị với lá hay vỏ cây neem và dầu neem. Những tổn thương của da hay cảm giác nóng rát được điều trị thành công với việc tắm nước lá neem và thoa dầu neem.

2.BỆNH LẬU (GONORRHEA)

       Bệnh lậu do vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae, phát triển mạnh ở vùng ấm, ẩm ướt của cơ thể như đường sinh sản, khoang miệng, và trực tràng. Nơi phụ nữ, cổ tử cung là vị trí trước tiên bị nhiễm trùng, nhưng nó có thể lan vào tử cung và ống dẫn trứng, gây viêm xương chậu. Việc này có thể gây ra vô sinh và có thai ngoài tử cung, nguy hiểm cho sinh mạng nếu không phát hiện sớm. Bệnh thường lan truyền qua quan hệ tình dục. Nếu không chữa trị, vi khuẩn bệnh có thể tiến vào cơ thể qua máu và vào trong cổ họng, mắt, trực tràng, âm đạo, xương, khớp xương, gân, và các mô khác. Ở giai đoạn này, định bệnh sẽ khó hơn và thường bị chẩn bệnh sai như là viêm khớp.

       Dầu neem dùng như chất bôi trơn có thể hữu hiệu chống lại vi khuẩn bệnh lậu gonococcus bằng cách tăng cường hệ miễn nhiễm trong vùng âm đạo. Sử dụng dầu neem như chất bôi trơn có thể giảm cơ hội nhiễm bệnh, đặc biệt khi kết hợp với bao cao su. Cách điều trị truyền thống sau khi bị nhiễm trùng là uống ba ly trà lá neem mỗi ngày trong hai tuần.

3.BỆNH GIANG MAI (SYPHILIS)

       Bệnh do vi khuẩn hình xoắn ốc, Treponema pallidum, gây ra. Bệnh dễ chữa với thuốc kháng sinh, nhưng vì triệu chứng nhẹ nên nhiều người không biết họ đang bị bệnh giang mai. Nếu không chữa tri, từ từ nó có thể làm tổn thương các cơ quan hay dẫn đến mù lòa, bệnh tim, bệnh tâm thần và tử vong. Để phòng bệnh dùng bao cao su. Dùng thêm dầu neem như chất bôi trơn âm đạo, đề phòng bao cao su có thể rách.

       Neem có đặc tính kháng khuẩn xoắn nên nó hữu hiệu trong cả hai việc phòng ngừa và chữa bệnh giang mai trong giai đoạn đầu, giai đoạn thứ hai, hay giai đoạn cuối cùng.

       Dầu neem được dùng như chất bôi trơn âm đạo có thể hữu hiệu trong diệt trừ vi khuẩn xoắn của bệnh giang mai. Uống trà neem ba lần mỗi ngày trong hai tuần để kích thích hệ miễn dịch bổ sung cho điều trị kháng sinh.

4.CHLAMYDIA

       Bệnh do vi sinh vật có tên Chlamydiae gây ra. Chlamydia có liên quan đến nhiều trường hợp phụ nữ không thể thụ thai do sẹo ở ống dẫn trứng.

       Dùng dầu neem như chất bôi trơn âm đạo để phòng ngừa nhiễm trùng. Cách khác, ngay sau giao hợp hay nếu đã mắc bệnh, dùng nước nấu với 50 lá neem (có tác dụng như nước khử trùng) để thụt rửa. Dầu neem được thoa vào bên trong âm đạo sẽ tiêu trừ nhiễm khuẩn chlamydiae  trong một đến ba tuần. Với những trường hợp khó trị, uống thêm hai ly trà neem mỗi ngày trong một tuần để diệt vi khuẩn bên trong.

5.HERPES SINH DỤC (GENITAL HERPES : HSV2)

       Trước khi bệnh AIDS xuất hiện, bệnh herpes sinh dục là căn bệnh truyền nhiễm qua quan hệ tình dục rất đáng sợ. Bệnh gây nhức đầu, sốt và đau rát ở khu vực sinh dục có thể lâu đến cả tháng và có thể tái lại đến sáu lần mỗi năm. Bệnh không chữa được và có vài điều trị hiệu quả. Các thử nghiệm ở Đức cho thấy chiết xuất từ neem có thể chống lại virut herpes.

       Neem có hợp chất kháng virut nên có thể phòng ngừa bệnh lây nhiễm, phòng ngừa nhiễm trùng. Dùng dầu neem như chất bôi trơn âm đạo. Nếu đã mắc bệnh, thoa dầu neem vào vùng bị nhiễm. Nhiều bệnh nhân đã báo cáo neem đã giúp giảm đau rát rất nhiều, giảm sự bùng phát của bệnh. Uống hai ly trà lá neem sẽ tăng cường đáp ứng với virut của hệ miễn nhiễm.

6.MỤN Ở ÂM ĐẠO (GENITAL/VAGINAL WARTS)

       Dầu neem hữu hiệu chống lại human papilloma virut, một bệnh lây nhiễm khó trị và có thể gây ung thư cổ tử cung. Virut lan truyền qua tiếp xúc da chứ không qua chất dịch. Bao cao su được sử dụng để ngừa bệnh, nhưng nó có thể bị rách.

       Dùng dầu neem như chất bôi trơn âm đạo kết hợp với bao cao su sẽ giúp phòng ngừa đáng kể bệnh lây nhiễm này và các bệnh lây nhiễm khác. Đối với những người đã mắc bệnh, thoa dầu neem hàng ngày trong một tháng đã cho thấy giảm số mụn và hết ngứa.

7.BỆNH NẤM CANDIDA (CANDIDIASIS)

       Hơn 50% phụ nữ trên 25 tuổi thỉnh thoảng bị nấm ở màng nhày âm đạo, trong đó 5% số người bị tái trở lại. Bệnh do nấm Candida albicans gây ra. Thường thì cơ thể chế ngự nấm, nhưng thuốc trụ sinh hay sự thay đổi về hormone làm nấm gia tăng nhanh chóng.

       Dầu neem và lá neem chiết xuất hữu hiệu trong điều trị nấm candida. Gần đây, một thành phần nhỏ trong dầu neem có tên NIM-76 đã được thử nghiệm về hoạt tính diệt tinh trùng và khả năng diệt trừ bệnh ở đường âm đạo. NIM-76 được chứng minh là tốt hơn dầu neem nguyên chất trong khả năng diệt nấm candida albicans để bảo vệ cơ thể không bị nấm toàn thân.

       Nấu nước trà lá neem mạnh với 50 lá neem có thể dùng để thụt rửa hay dùng dầu neem thoa bên trong hàng ngày trong một tuần. Việc này gây sự co cơ âm đạo, giảm viêm, hết ngứa và loại trừ nhiễm nấm.

8.NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU (URINARY TRACT INFECTION)

       Có nhiều nguyên nhân gây ra nhiễm trùng đường tiểu làm cho bệnh nhân bị đau rát lúc đi tiểu. Đa số các trường hợp là do vi khuẩn lây lan từ trực tràng, thông qua ống dẫn tiểu vào bàng quang. Uống nhiều nước thường là cách đơn giản để tẩy nhiễm trùng. Nước cranberry (trái nam việt quất) cũng được dùng cho mục đích này. Nước trà lá neem cũng hiệu quả. Nhiều người kể rằng mặc dù cố gắng thử nhiều cách kể cả thuốc kháng sinh mà bác sĩ cho toa, vẫn bị nhiễm trùng đường tiểu trở lại. Tuy nhiên khi họ thử trà lá neem, đã hết nhiễm trùng và bệnh không tái trở lại nữa.

       Đối với trường hợp nhẹ, lấy 5 lá neem pha trà uống, hai lần một ngày trong một tuần. Triệu chứng thường biến mất trong hai hay ba ngày, nhưng cứ tiếp tục uống trà lá neem cho hết tuần để diệt trừ những nhiễm trùng còn sót lại cho dù không còn triệu chứng nào bên ngoài nữa.

         *Xin xem thêm bài:

NEEM diệt Kí Sinh Trùng – Cách làm CỒN NEEM, DẦU NEEM (Phần VII)

Nguồn: NEEM The Ultimatate Herb của John Conrick
Chuyển ngữ: Kim Tuyến, chuyên viên Thảo dược

 

by Tháng Mười 13, 2012 2 comments Tài liệu Neem
CHAPARRAL – CÂY THUỐC ĐẶC BIỆT VÙNG SA MẠC

CHAPARRAL – CÂY THUỐC ĐẶC BIỆT VÙNG SA MẠC

Dr. Christopher’s School of Natural Healing
https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/06/SNH-logo.jpg

CHAPARRAL
CÂY THUỐC ĐẶC BIỆT VÙNG SA MẠC

NỘI DUNG

KHÁI NIỆM

ĐỜI SỐNG SINH HỌC CỦA CHAPARRAL 

THU HOCH VÀ DỰ TRỮ 

THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CHAPARRAL

TÓM TẮT LỊCH SỬ CÁCH SỬ DỤNG CHAPARRAL NHƯ CÂY THUỐC

        Thổ dân Mỹ và  những người đnh cư đu tiên         

        Bộ lạc Piutes

        Bộ lạc Shoshone

        Bộ lạc Papago

        Bộ lạc Pima

        Bộ lạc Coahuilla  

        Dược điển Hoa Kỳ

        Các bài tường trình của J. Heironymus

CÔNG DỤNG

NGHIÊN CỨU UNG THƯ VÀ CHAPARRAL

CHỨNG TỪ:

         1- Đổ mồ hôi chân, êm dịu đôi bàn chân mi mệt vì đng làm việc lâu.
         2- Đau nhức ở đu, mt, mt, chân và lưng. viêm khp và viêm d dày

         3- Kích thích gan và rut đtẩy sch các chất thải

         4- Nhiễm trùng

         5- Viêm khớp, lợi tiểu

         6- Khử mùi hôi

CHIA SẺ KINH NGHIỆM:

         –Đau thn kinh tọa  (Trần Huy)

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/08/Chaparral_31.jpg

CHAPARRAL – CÂY THUỐC ĐẶC BIỆT VÙNG SA MẠC

CHAPARRAL

     Larrea Tridentata là tên Latin dùng để mô tả một trong các chất lọc máu tốt nhất không chứa độc tố trên trái đất hiện nay: Chaparral.

     Chaparral mọc tràn lan ở nhiều nơi trên thế giới và có khả năng chữa lành rất đáng ca ngợi. Nhưng nó chưa được rộng rãi quần chúng khắp nơi trên qủa đất biết đến. Các bằng chứng về hiệu qủa chính của chaparral đến từ các nước Bắc và Nam Mỹ. Ngoài ra UNESCO cung cấp một số tài liệu cho biết Chaparral đã được công nhận ở châu Phi. Một trong những câu chuyện thú vị nhất của Chaparral đến từ tiểu bang Utah. Nó liên quan đến phương cách chữa bệnh của người bản xứ da đỏ, Hiệp hội Y học Mỹ tại Đại học Utah, và một lão ông, người đã từ chối thêm một phẫu thuật khác cho bệnh ung thư vì lý do tuổi gìa. Chúng tôi sẽ nói chuyện này sau.

 

ĐỜI SỐNG SINH HỌC CỦA CHAPARRAL 

     Chaparral phát triển mạnh trong các vùng sa mạc và vùng Tây Nam Hoa Kỳ. Sau cơn  mưa, sa mạc phảng phất một mùi chát đặc biệt từ các bụi cây chaparral. Người ta có cảm nghiệm khác nhau về hương vị của chaparral, người cho là dễ chịu, người thấy khó chịu. Chaparral bao gồm hàng ngàn dặm vuông ở vùng sa mạc.

     Chaparral  được dùng làm thực phẩm nuôi súc vật (sau khi đã lấy chất nhựa ra), dùng làm thuốc, dùng như củi, và dùng trong việc làm mái nhà ở Argentina.

 

THU HOCH VÀ DỰ TRỮ 

     Có thể thu hoạch chaparral bất cứ lúc nào sau khi cây trổ hoa. Tuy nhiên tốt nhất là buổi trưa, khi các hoạt chất của cây lên cao nhất. Có thể sấy khô chaparral nơi ấm áp, dưới bóng mát, hay dùng máy sấy ở nhiệt độ thấp, dưới 55 độ C (130 độ Fahrenheit). Một trong những phương pháp đơn giản nhất để sấy các loại thảo dược là hái lá xong, đặt chúng vào trong bao giấy lớn, sau đó đặt bao vào nơi khô ráo trong vài ngày. Khi lá khô, chứa lá trong túi nhựa và cột chặt lại. Nếu muốn dự trữ lá trong thời gian dài, cho lá vào bình thủy tinh hay hộp kín. Nếu muốn dự trữ thật lâu hơn nữa, thì hàn chung quanh nắp đậy bằng chất sáp. Luôn giữ các bình chứa ở một nơi tối, thoáng mát.

     Khác với nhiều dược thảo khác được dự trữ dưới dạng tập trung đậm đặc bằng cồn chiết xuất, chaparral tốt nhất được chiết xuất bằng giấm táo. Chỉ đơn giản cho 30gr lá khô vào trong chai đựng nửa lít giấm táo.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CHAPARRAL 

     Lá Chaparral có chứa một chất nhựa dính thường được gọi là “dầu mộc du tự nhiên (creosote: dầu có mùi hắc ín than đá và gỗ). Tính cht sát trùng ca nhựa chaparral là tương t như nha thông. Nhựa chaparral  có th thsâu vào da cơ b đ làm gim đ cng và đau nhức. Có rất nhiều người bị viêm khớp và thấp khớp đã được thuyên giảm trong nhiều thế kỷ qua việc sử dụng Chaparral. Tt nhiên, chúng tôi luôn khuyên bn nên thực hành 3ngày Tẩy lọc và theo chế đ ăn ung không chất nhầy cùng vi nước ctrong bt kỳ chương trình tho dược nào.

     Saponin, có hoạt tính giống như thuốc tẩy, cũng ở trong Chaparral.

     Chaparral không chứa alkaloits. Nó hoàn toàn không có độc tố. Nó bao gồm nhựa cây, các chất nhựa, ester, axit, cồn, sterol, sucrose, và các loại dầu dễ bay hơi.

     Chaparral chứa nhiều protein như cỏ linh lăng (alfalfa),  natri và kali (sodium và potassium)

     Chúng tôi đã phân tích một mẫu của Chaparral về thành phần hóa học của nó. Lấy mẫu từ cửa hàng dược thảo. Dưới đây là danh sách các kết quả của chúng tôi:

        

Thành phần hóa học của chaparral:

Moisture 7.2%
Protein 12.2%
Fat 3.1%
Fiber 21.6%
Ash 3.8%
Carbohydrate 27.2%
Calcium 0.37%
Phosphorus 0.62%
Potassium 0.49%
Sodium 0.12%
Chlorine 0.08%
Magnesium 0.11%
Iron 0.0007%
Manganese 12.0 mg/lb
Copper 2.0 mg/lb
Resins 0.81%
Nor-dihydro-xyguaiaretic acid 6.8%
Volatile oils 0.37%
Tannic acid  
Gallic acid  
Pyrogallic acid  
Tricosanone  
2, methyl  
1, 4 naphthoquinone  

 

     Chaparral có cha hp cht phenol, nordihydroguariaretic acid (viết tắt: NDGA). Nó được tìm thấy trên mặt lá và cành nơi tất cả các loài Larrea. Kỹ nghệ sử dụng NDGA nhiều cách. Chaparral được dùng như cht chng oxy hóa cho các loi thc phm, đc bit là cht béo, du và vitamin A. Chaparral ổn định polymer, dầu nhờn, cao su, nước hoa và vỏ ô-liu. Nó rất hữu ích trong phát triển ngành nhiếp ảnh. NDGA ngăn ngừa gỉ sét nơi kim loại.

     NDGA hữu hiệu trong việc chống mốc, khuẩn salmonella và Penicillium. Có tài liu chứng minh NDGA c chế hot đng ca tế bào khi u chut và con người, k ccác khi u ung thư bch cu. Trong các thí nghiệm trên chuột, NDGA kết hp vi Vitamin C thành công nhiều hơn khi được s dng riêng lẻ mt mình. NDGA đã được chứng minh là có tính chất giảm đau. Các thí nghiệm trên chuột đồng đã chứng minh rằng NDGA cách nào đó ức chế sâu răng và làm tăng tuổi thọ của động vật. NDGA cũng được sử dụng trong điều trị chứng nghiện rượu, rối loạn gan và lão hóa.

     Một trong những khám phá tuyệt vời nhất về Chaparral là nó có cha mt lượng ln mangan, đng, km. Đây là những khoáng chất hữu cơ sống, cơ thể hấp thu dễ dàng, không phải là loại vô cơ khó tiêu hóa mà bạn mua ở dạng viên tại các cửa hàng vitamin địa phương. Các khoáng cht vô cơ có th có mt phn ng tc khắc trên h thng ca con người, nhưng hiệu qủa của chúng chỉ là tạm thời gim các triu chng bên ngoài. Nhng chất vô cơ này giống như cái nạng chống đỡ qùe quặt sẽ dẫn đến các vn đ ln hơn sau này khi các cơ quan suy yếu đi t các chất thải không hấp thu được mà chất vô cơ để lại.

     Các khoáng chất hữu cơ có trong trái cây, rau, ngũ cc, các loi ht và ht nhân (danh sách này bao gồm các loại thảo dược) là loại khoáng chất duy nhất chúng ta cần cho cơ thể. Đây là sự thật mà chúng tôi lặp đi lặp lại nguyên tắc này mãi. Chúng tôi mong mun mọi người hiểu được rằng con người s dng các khoáng cht hu cơ, chỉ có thc vt mới s dng các khoáng chất vô cơ. Mặc dù chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại điều này, chúng tôi vẫn thấy người đồng hương ăn viên đá để bổ sung canxi và ăn các kim loại nặng để bổ sung khoáng chất. Một khi họ hiểu được sự thật của vấn đề, họ sẽ ngừng gây thiệt hại cho cơ thể của họ.

     Chúng tôi đã đề cập đến Chaparral có chứa đồng, mangan và kẽm với số lượng đáng kể.

     Mangan cần thiết cho sức mạnh của các mô, cơ bắp, xương, cơ tim, mạch máu, đường tiết niệu, thần kinh, tế bào não và mắt. Sắt giúp mang oxy từ phổi đến các tế bào của cơ thể. Mangan hỗ trợ giảm cân. Nó cũng tốt cho phụ nữ mang thai và cho con bú. Mangan cần thiết trong sự hình thành máu và urê. Sự thiếu hụt nghiêm trọng làm cho thiếu tăng trưởng, xương dị dạng, cân bằng kém, nhược cơ, và bệnh lupus. Các triệu chứng khác bao gồm lười biếng, vô sinh, hôn nhân bấp bênh, sốt, thiếu máu, hen suyễn, viêm phế quản, cảm lạnh, viêm xoang, chất nhầy dư thừa, móng dễ gãy, bướu cổ, đau thần kinh tọa, sưng tuyến tiền liệt, bệnh lao, và các vấn đề sinh sản.

     Đồng được tìm thấy trong tất cả các mô của cơ thể con người. Đồng và sắt  hot đng cùng nhau để tạo hemoglobin trong máu. Đồng giúp cơ thể sử dụng Vitamin C dễ dàng hơn, và đồng cùng với Vitamin C giúp hình thành elastin, thành phần chính của sợi cơ đàn hồi.

     Sự tăng trưởng và phục hồi của vỏ bao thần kinh là một phần là do đồng. Hô hấp trong các mô được tăng cường nhờ đồng. Nếu bạn không có đồng đủ trong chế độ ăn uống, bạn có thể bị hô hấp kém. Người thiếu chất đồng sẽ yếu ớt, bệnh lâu lành, tóc bạc, rụng tóc, huyết áp thấp, rối loạn gan và túi mật, lá lách yếu, mụn trứng cá, eczema, thiếu máu, viêm phế quản, cảm lạnh, viêm xoang, bồn chồn lo lắng, chất nhầy quá mức, thấp khớp, viêm dây thần kinh, đau thần kinh, sưng tuyến tiền liệt và có vấn đề về hệ sinh sản, lao, suy tim, xương xốp, các khiếm khuyết về hệ xương khác, sử dụng sắt kém, và tăng trưởng chậm.

     Km hoàn toàn cần thiết cho chức năng của h sinh sn. Mặc dù kẽm được tìm thấy trong hầu hết các cơ quan, nồng độ cao nhất được tìm thấy trong gan, tuyến tụy, thận, tinh trùng, các cơ quan sinh sản, và tuyến giáp trạng. Kẽm cần thiết cho mô hô hấp (vận chuyển khí carbon dioxide từ các mô vào máu), và hình thành insulin. Khi ăn nhiều calcium và axit phytic (chất có trong ngũ cốc), cần uống thêm thuốc bổ sung kẽm, vì Calcium và axit phytic cách nào đó ngăn chặn sự hấp thu kẽm trong cơ thể. Kẽm giúp cân bằng lượng acid – kiềm . Nó hỗ trợ tiêu hóa, bao gồm cả sự hấp thu các vitamin B.

     Hoạt động bình thường của toàn bộ hệ thống nội tiết tố phụ thuộc vào chế độ ăn uống cung cấp đủ kẽm. Chúng ta cũng cần kẽm để chuyển hóa phốt pho, tổng hợp protein và acid nucleic. Nơi trẻ em, sự phát triển bình thường và sự trưởng thành sinh dục chỉ có thể tiến hành nếu có đủ kẽm. Nếu bạn bị  chứng chuột rút cơ bắp, các vết thương chậm lành, kém hấp thu ở ruột non, hoặc rối loạn tuyến tiền liệt, bạn có thể thiếu kẽm.

     Dùng chaparral là một cách tuyệt vời để có được mangan, đồng và kẽm trong dạng tập trung.

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/08/chaparral_2.jpg

 

TÓM TẮT LỊCH SỬ CÁCH SỬ DỤNG CHAPARRAL NHƯ CÂY THUỐC

     Thổ dân Mỹ và  những người đnh cư đu tiên của miền Tây nước Mỹ đã sử dụng những ngọn hoa của cây bụi mộc du làm thức uống ngon miệng. Có người nghĩ  nó thây thế cho cà phê ngon.

     Bộ lạc Piutes có nhiều cách sử dụng bụi cây mộc du. Họ dùng trà lá chaparral thoa đắp bên ngoài để chữa thấp khớp. Họ làm thuốc mỡ (salve) từ nước sắc lá và những thành phần khác nữa để lầm thuốc đắp trị phỏng. Một chén nước sắc lá đơn giản dùng để chữa cảm lạnh, chữa các bệnh về da, và chứng chuột rút ở ruột. Bột lá khô đươc rắc lên vết thương. Trà lá chaparral dùng để rửa các mụn trái rạ. Rất gía trị cho bệnh hoa liễu.

     Bộ lạc Shoshone của Great Basin dùng nước sắc chaparral như thuốc chữa cảm lạnh, lợi tiểu, và bệnh hoa liễu.

     Bộ lạc Papago sử dụng nước sắc lá như thuốc chống nôn, hỗ trợ phụ khoa (dùng nước sắc lá thoa lên vú để khơi dòng sữa chảy của bà mẹ cho con bú.) Họ thường lấy bột lá khô đặt lên rốn trẻ sơ sinh để thúc đẩy việc chữa lành. Họ cũng dùng chaparral như phương thuốc phổ thông cho cứng khớp, vết loét, vết cắn và đau bụng kinh nguyệt.

Phiên bản Papago về tàu No-e được Douglas Rigby kể lại như sau:

     Bộ lạc Pima dùng chaparral để gây nôn khi họ cần làm sạch dạ dày. Họ dùng nhiệt làm chảy nhựa nhánh cây để lấy chất sáp nhỏ vào khoang của răng đau nhức.

     Bộ lạc Coahuilla của vùng mà bây giờ là Palm Springs, tiểu bang California, uống trà lá chaparral chữa các vấn đề đường ruột, lao phổi, dạ dày, ho, cảm lạnh, sốt sữa, đau mắt do khói, đổ mồ hôi, bong gân, đau nhức cơ bắp, thương tích và bệnh thấp khớp. Sau khi tiếp xúc  với người da trắng, danh sách các bệnh này dài thêm ra. Bệnh lao phổi đã lấy đi sinh mạnh của hết thảy các trẻ em trong bộ lạc. Bệnh sởi, ho gà, và bệnh đậu mùa cũng xâm nhập. Dân làng không bị bệnh hoa liễu vì họ không tin tưởng người da trắng nên không đến gần. Các người Coahuilla cũng cho ngựa ăn chaparral khi chúng trở nên hỗn loạn, cảm lạnh, và chẩy nước mũi.

     Chaparral là một thuốc chữa bệnh chính thức trong Dược điển Hoa Kỳ từ năm 1842 đến năm 1942 như thuốc làm long đờm vàthuốc kháng sinh cho bệnh phổi.

     Các bài tường trình của J. Heironymus về chaparral Argentina năm 1882 ghi lại rằng Chaparral được sử dụng như là một cây thuốc. Một nhà thực vật khác có liên quan với hệ thực vật của Argentina đề cập đến tính chất dược liệu cho Chaparral vào năm 1903. Ở Chile và Argentina, Chaparral vẫn được sử dụng như một chất kích thích, chữa thương tích, thuốc điều kinh, và trợ giúp tiêu hóa. Bột lá hay nước sắc lá được dùng để đắp lên khối u.

SỬ DỤNG THỰC HÀNH

     Chaparal được sử dụng để  lọc máu, chống viêm khớp, tẩy lọc đường ruột, kích thích gan, chống thấp khớp, khử trùng, lợi tiểu, long đờm và thuốc bổ.

     Chaparral được sử dụng trong bệnh thấp khớp, mụn hoa liễu và viêm loét miệng (khi kết hợp với sarsaparilla). Nó hỗ trợ trong việc giảm kích thước và tiêu diệt khả năng tăng trưởng của các khối u ác tính, u hắc sắc tố ác tính, mụn trứng cá, và ung thư da, đau lưng mãn tính, mụn cóc và nhọt sưng tấy,  ung thư, viêm khớp. Chaparral giúp mọc tóc, cải thiện thị lực và gia tăng nhuận tràng mặc dù nó không thuộc loại thuốc này. Chaparral chắc chắn được chỉ định dùng trong nhiễm trùng thận, bệnh bạch cầu, rối loạn tuyến tiền liệt, ung thư da, các vấn đề về xoang, rối loạn dạ dày, đau họng, các bệnh về phổi và cuống phổi, chuột rút ở chân, mụn nhọt và béo phì. Chaparral chuyển đổi quá trình lên men làm thuốc đắp rất tốt cho cho ngực và các chỗ đau trong cơ thể.

     J.C. Th. Uphof, trong ấn bản 1968 của ông, TỪ ĐIỂN DƯỢC THẢO, cho rằng các cành và lá của Larrea Mexicana được ngâm trong nước sôi, sau đó dùng như kem dưỡng da sát trùng, dùng để thoa các vết loét của người và gia súc. Các nụ hoa thường được ngâm trong giấm và làm nước sốt. Tại Mexico, chaparral được dùng để chữa bệnh bệnh thấp khớp. Nước sắc của lá được dùng để đắp và cho vào chậu để ngâm chỗ đau.

NGHIÊN CỨU UNG THƯ VÀ CHAPARRAL

     Hầu hết các nghiên cứu ung thư với Chaparral đã được thực hiện tại trường Đại học Nevada ở Reno và Utah tại Salt Lake City. (Điều này chưa bao gồm sự thành công của chúng tôi với hàng trăm bệnh nhân trong suốt những năm qua). Một nghiên cứu nổi tiếng của Tiến sĩ C.R. Smart, Tiến sĩ H.H.  Hogle và những tiến sĩ khác từ Đại học Utah, Đại học Y Khoa ngành Phẫu thuật và trường Đại học Dược khoa tại thành phố Salt Lake. Nó liên quan đến một người đàn ông 85 tuổi có u hắc tố ác tính tái trở lại luôn (tăng trưởng ung thư da, sậm màu) trên má phải. Có những đốm ung thư nhỏ khác chung quanh khối chính và một khối mềm lớn ở hàm bên phải và vùng cổ. Ông sụt nhiều cân, xanh xao, yếu nhược, thiếu sinh khí. Ông đã trải qua ba lần giải phẫu để loại bỏ khối u ác tính. Sau mỗi lần khối u mọc trở lại to hơn lần trước. Đến lần thứ tư đốm ung thư da này đo khoảng 3×4 cm, ở cổ 5×7 cm. Các bác sĩ lại đề nghị giải phẫu tiếp tục. Ông lão từ chối giải phẫu, từ chối bất kỳ điều trị đặc biệt tiếp theo và về nhà. Lúc đó là tháng 10 năm 1967. Một tháng sau, ông bắt đầu trung thành uống 2-3 tách trà chaparral hàng ngày theo lời khuyên của một người bản xứ Mỹ. Đến tháng 2 năm 1968, ba tháng sau, khối ung thư ác tính đã rút lại chỉ còn nhỏ xíu 2 hoặc 3 mm đường kính, trong khi khối ở cổ hoàn toàn biến mất. Ông lão tăng cân, da dẻ tươi nhuận và sức khỏe gia tăng rất nhiều.

     

       Cơ quan Nghiên cứu Kelly ở Grapevine, tiểu bang Texas đã và đang hoạt động trong nghiên cứu ung thư. Sau đây là một tuyên bố liên quan đến Chaparral của Tiến sĩ William Kelly:

     “Tôi đã tìm thấy là Chaparral rất hiệu quả trong 7% của các trường hợp bệnh ác tính. Hoạt động của chaparral không như nhiều nhà nghiên cứu tin tưởng rằng đó là hoạt động đặc biệt chống lại tế bào ung thư, nhưng đúng hơn lại là hoạt động gián tiếp. Trong 7% các trường hợp ung thư ác tính, tuyến tụy và gan cũng như các mô khác của cơ thể bị tắc nghẽn bởi nhiều độc tố từ thuốc tây, thuốc xịt, độc chất kim loại và các chất ô nhiễm khác đến nỗi các cơ quan đó không thể hoạt động bình thường được. Những thứ này cơ bản là những thứ đối kháng với sự chuyển hóa các enzyme, chất khoáng và vitamin trong cơ thể. Đặc biệt đối với ung thư, các enzym tuyến tụy bị khóa, do các chất đối kháng, trở nên vô hiệu hoàn toàn. Bằng cách dùng chaparral đào thải các đối kháng từ các enzym tuyến tụy này, chúng tôi thấy rằng hệ phòng thủ của bệnh nhân ung thư chiến đấu và phá hủy các khối u ác tính. Cũng đã được cho thấy rằng Chaparral hoạt động tốt trong việc đào thải các độc tố và dư lượng thuốc ma túy của những người đã từng nghiện ngập.

      Chúng tôi đề nghị uống 2 viên Chaparral trước mỗi bữa ăn.

     Tiến sĩ Kelly , tác gi sáchCÂU TR LI CHO UNG THƯ.(Tháng 3 / 1972).

https://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/08/Chaparral_1.jpg

 

CHỨNG TỪ:

1- Một y tá ở Mohave, tiểu bang California đã viết một bức thư cho tạp chí Fate vào năm 1970 liên quan về lời khuyên của một người phụ nữ da đỏ Mỹ về sự  khó chịu của đôi bàn chân ướt đẫm mồ hôi: Đó là lót bên trong đôi giày vài lá Chaparral dầy. Chaparral vừa giúp không đổ mồ hôi chân, vừa làm êm dịu đôi bàn chân mỏi mệt khi công việc đòi cô đứng 6-7 giờ một ngày.

2- Một phụ nữ ở Spokane, tiểu bang Washington bị nhiều loại đau nhức ở đầu, mặt, mắt, chân và lưng. Cô cũng bị viêm viêm khớp và viêm d dày, và các tình trạng trên lại càng trầm trọng hơn do ba lần té ngã nghiêm trọng. Tội nghiệp cho cô vì không đủ sức bước đi chỗ này chỗ kia nếu không dừng lại nghỉ ngơi cứ mỗi đôi phút. Trong tuyệt vọng, cô mua viên và trà gói chaparral tại một cửa hàng thực phẩm. Sau vài tháng uống chaparral, cô đã có thể đi bộ và thậm chí khiêu vũ nữa mà không bị đau chân hay đau lưng gì nữa cả. Viêm dạ dày của cô cũng hết. Cô thấy cơ thể được tự do và nhẹ nhàng hơn. Chồng cô được tác động bởi sự tiến triển của cô nên bắt đầu uống trà chaparral. Cả hai uống trà này với mật ong và chanh vào chiều tối trước khi đi ngủ để thư giãn. Cô đề nghị cho thêm ¼ cốc (60 ml) nước dứa vào trà chaparral để bớt đắng và dễ uống.

3- Theo Edward L. Card, ND, ở Mexico, Chaparral có khả năng kích thích gan và ruột để tẩy sạch các chất thải chứa độc tố từ hệ thống của con người. Axit hydrochloric được sản xuất bởi dạ dày thường là đủ mạnh để quét sạch các ký sinh trùng và ấu trùng. Tuy nhiên, ruột gìa nhiều người có những túi nhỏ chứa chất phế thải cũ từ bao nhiêu năm bừa bãi ăn bánh ngọt, đường, và các loại thực phẩm có dầu mỡ. Đây là nơi chaparral có thể trợ giúp đắc lực.

Chất nhựa trong lá chaparral có tính khử trùng có thể giúp loại bỏ những chất thải độc hại trong túi ruột mà ký sinh trùng đã sống ở đó có lẽ nhiều năm. Ngay sau khi chất dơ được lấy ra, ký sinh trùng không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc ra khỏi nơi sạch sẽ này rồi ra khỏi cơ thể.

4- Tiến sĩ Carl đã rất thành công trong việc dùng chaparral điều trị cho người bị nhiễm khuẩn. Cùng với việc chuyển sang chế độ ăn uống tẩy lọc, chaparral đặc biệt hiệu quả chống lại các bệnh nhiễm trùng amib như Entamoeba Hystalitica rất phổ thông ở Mexico, ngay cả khi thuốc tây vô cơ mạnh thất bại nữa.

     Chaparral là loại kháng sinh có hiệu năng ức chế sự phát triển, hay diệt trừ vi khuẩn, vi rút và trùng amip. Nó là loại thảo dược vô hại, không độc tố, không độc hại, nó thanh lọc cơ thể rất tốt. Để thử nghiệm trên chính mình những ưu và khuyết điểm của chaparral, bác sĩ Christopher đã uống 7-11 viên 1000 mg hàng ngày trong gần hai năm, không thấy có hại gì cả mà chỉ thấy lợi ích thôi.

     Trong bộ bách khoa toàn thư về y học tự nhiên, tác giả Robert Thomson (ấn bản 1980) viết:

     “Lá và thân của Chaparral, cũng được biết đến như bụi cây mộc du (creosote bush) hoặc cây nhựa (Greasewood), chứa nhiều chất dính, nhựa, các axit, một lượng nhỏ của hỗn hợp sterol, sucrose, protein, rượu, và rất ít dầu dễ bay hơi. Chaparral không có độc tố. Và không có chất alkaloids.

     Người bản xứ Mỹ và người Mễ đã sử dụng chaparral rộng rãi trong nhiều lãnh vực. Chaparral là thuốc khử trùng, lợi tiểu, long đờm và thuốc bổ.

     Chaparral đã trở nên thông dụng trong vài năm qua để điều trị toàn phần hay một phần cho bệnh ung thư và các bệnh thoái hóa khác. Đặc biệt chaparral có thể định hướng lại quá trình lên men của cơ thể bởi hoạt chất axit nordihydroguariaretic (NDGA). Một số tạp chí đã tường trình sự thuyên giảm và co rút của các khối u chỉ dùng một mình chaparral để điều trị mà thôi.

     Chaparral cũng được dùng làm thuốc đắp bên ngoài để chữa thấp khớp và bong gân. Phần bã lá còn lại sau chế biến thương mại để lấy chất nhựa, được dùng để làm thức ăn cho gia súc vì lá có nhiều protein như cỏ linh lăng (alfalfa).

5- Mấy năm trước, tôi hướng dẫn một ông lão, bệnh nhân của tôi, uống mỗi ngày ít là ba ly trà chaparral. Ông đang khập khiễng, khó đi lại vì viêm khớp. Sau vài tuần, tôi hỏi thăm xem  chaparral có giúp các khớp trơn chưa. Ông nói rằng ông chưa đạt được kết qủa nhanh chóng như ông mong muốn, vì thế tôi nói sẽ cho ông công thức khác để thay thế trà chaparral. Ông đáp lại rằng cho dù trà chaparral khó uống cách mấy, ông vẫn muốn tiếp tục dùng nó. “Tại sao vậy?” Tôi hỏi và ông giải thích rằng trước khi uống trà chaparral, mỗi đêm ông phải thức dậy 5-6 lần để đi tiểu. Việc này làm ông mất ngủ và mệt mỏi. Từ khi uống trà chaparral, ông đã ngủ ngon suốt đêm không phải thức dậy lần nào vì tức bụng muốn đi vệ sinh cả.

     Như vậy “phản ứng phụ” của chaparral là thuốc lợi tiểu và tái xây dựng  đường tiết niệu tốt. Tôi thường nói: “bất cứ thứ gì có vị khó uống như trà chaparral hẳn là tốt cho cái gì đó.” Trà này đã giúp nhiều bệnh nhân thuyên giảm thấp khớp, viêm khớp, v.v., giúp họ đi lại dễ dàng hơn.

     Biết trà chaparral có vị đắng khó chịu như vậy rồi, tôi kể tiếp cho các bạn nghe câu chuyện bất ngờ về một công dụng của trà chaparral mà một sinh viên khám phá ra.

6- Chúng tôi mướn hội trường Y.W.C.A. một đêm để diễn thuyết tại Seattle. Vì đó là một câu lạc bộ phụ nữ, nên tôi không nghĩ họ lại cho đủ mọi loại nhóm đến thuyết trình hay họp mặt. Khi chúng tôi bước vào hành lang mà hệ thống thông hơi kém, tôi giật mình và bịt mũi bởi mùi hôi mốc kinh khủng  thuốc xì gà, thuốc lá, rượu bia, mùi hôi người,…, đủ để bạn buồn nôn!

     Tôi nói rằng đáng lẽ chúng tôi không nên để một toán về sức khỏe đến diễn thuyết ở một nơi bốc mùi như vầy. Tuy nhiên chỉ còn vài giờ nữa là đến giờ thuyết trình rồi, không tìm chỗ khác kịp. Một nam sinh viên trẻ tuổi đi với tôi nói: “Thầy đừng lo lắng về việc này, con sẽ làm cho hội trường có không khí tươi mát vào giờ diễn thuyết.” Tôi ngạc nhiên, nhưng tin tưởng anh và thái độ lạc quan của anh. Tôi nói anh cứ tiến hành làm những gì để tạo không khí trong lành cho buổi học.

     Tôi rất ngạc nhiên khi trở lại và thấy hành lang đã sạch mùi rồi. Tôi quay lại anh sinh viên và hỏi anh làm thế nào hoàn thành được nhiệm vụ cách đáng khen trong một thời gian ngắn như vậy được. Anh nói rằng anh nấu một nồi trà chaparral cho tới lúc trà mạnh gấp 7 lần. Anh đã học cách làm tăng độ mạnh của trà qua giảng dạy của chúng tôi, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc sử dụng kiểu này. Khi ninh trà xuống còn một nửa nước lúc ban đầu, trà sẽ có độ thuốc mạnh gấp ba lần. Khi ninh trà xuống còn ¼ nước lúc ban đầu, trà sẽ có độ mạnh gấp 7 lần. Anh cho vào bình xịt nước, và xịt khắp hành lang, các ghế ngồi, màn che cửa và trên thảm. Việc này giúp trung hòa mùi hôi. Hội trường có mùi trong sạch suốt buổi chiều tối hôm đó.

     Tôi hỏi anh làm cách nào đã tìm ra nguyên tắc này. Anh nói rằng vì anh luôn có mùi hôi nách, thỉnh thoảng anh phải rời đám đông vì thuốc khử mùi thương mại không có tác dụng. Tình cờ anh khám phá hiệu qủa khử mùi kỳ diệu của chaparral nên anh chế thuốc khử mùi cho anh. Anh chợt nghĩ có thể áp dụng cho hội trường này, và qủa nhiên là hữu hiệu.

     Như tôi thường nói là những gì tôi biết về thảo dược đến từ các lớp học, và 96% kiến thức của tôi đến từ các sinh viên, bệnh nhân, và sự ban tặng của Thượng Đế.

     Xin Chúa ban cho các anh chị được khỏe mạnh luôn.

     John R. Christopher.

CHIA SẺ KINH NGHIỆM:

     Đau thần kinh tọa: Trần Huy con anh chị Dũng Sương ở California vừa gọi Kim Tuyến nhờ mua 5 pounds lá Chaparral, bởi lá chaparral giúp giảm đau thn kinh ta cho Huy. Huy chỉ đơn giản bỏ một nhúm nhỏ lá chaparral vào bên trong vớ, chỗ hõm giữa lòng bàn chân, rồi đi giầy vào. Huy đi làm nhà hàng, đầu bếp, đứng liên tục ngày 7-8 tiếng, đau hai chân nhiều tháng nay, uống thuốc tây bác sĩ cho toa hoài không khỏi, có hôm đau qúa mà cũng phải đi làm. Dùng chaparral như vậy chỉ 5-7 ngày là thấy giảm đau rồi, đến nay được một tháng giảm rất nhiều, dù ngày nào cũng đứng suốt 8 tiếng. Chaparral lại khử mùi hôi chân nữa. Lúc về nhà cởi vớ thấy chất nhựa của lá chảy ra dính vào lòng bàn chân. Như phần đầu của bài, “chnhựa của chaparral thsâu vào da, cơ b đ làm gim đ cng và đau nhức. Huy mừng lắm.

Linh Mục Hoàng Minh Thắng và Nhóm Tông Đồ Mục Vụ Sức Khỏe

by Tháng Tám 13, 2012 1 comment Một số loài dược thảo