Bệnh & Chương trình

Cách nhận ra đột quỵ

Cách nhận ra đột quỵ

Một triệu chứng mới để phát giác Stroke

Một bác sỹ về thần kinh nói nếu ông có thể gặp bệnh nhân đột quỵ trong vòng 3 tiếng thì ông có thể hoàn toàn đảo ngược tình thế.

STROKE  ! !

Gần đây rất nhiều người chết vì đột quỵ. Chia sẻ với mọi người một thông tin hay về triệu chứng đột quỵ hãy dành chút thời gian đọc nhé, biết đâu có thể nhận biết và cứu những người xung quanh mình kịp thời.

Cục máu đông / Đột quỵ


– Người ta vừa tìm ra triệu chứng thứ tư, đó là biểu hiện của lưỡi.
Trong bữa tiệc nướng, một phụ nữ tên Jane vấp ngã – rồi cô bảo mọi người rằng cô không sao (vì mọi người khuyên nên gọi bác sỹ)… cô nói cô vấp vào viên gạch vì đôi giày mới.


Mọi người giúp cô gột rửa quần áo và lấy đĩa thức ăn mới cho cô. Còn 1 chút run run, nhưng cô vẫn đi lại ăn uống cùng mọi người suốt bữa tiệc.


Rồi sau đó chồng cô gọi điện bảo mọi người rằng vợ anh đã phải đưa đi viện (Jane đã mất lúc 6h00 tối). Cô bị đột quỵ tại buổi tiệc. Nếu mọi người biết cách nhận biết các dấu hiệu của đột quỵ thì có lẽ hôm nay Jane vẫn còn ở lại với chúng ta. Có thể nói rằng một số người không chết, mà họ chỉ kết thúc trong tình trạng không ai giúp đỡ, không ai có khả năng giúp đỡ.


Chỉ mất một phút để đọc phần sau.


Một bác sỹ về thần kinh nói nếu ông có thể gặp bệnh nhân đột quỵ trong vòng 3 tiếng thì ông có thể hoàn toàn đảo ngược tình thế. Ông nói, bí quyết chỉ là nhận biết triệu chứng đột quỵ, chẩn đoán, và sau đó chăm sóc y tế cho bệnh nhân trong vòng 3 giờ. Song bí quyết này không phải ai cũng dễ dàng biết.

CÁCH NHẬN BIẾT BỆNH ĐỘT QUỴ:

Đôi khi các triệu chứng đột quỵ rất khó nhận biết. Thật vậy, việc không nhận diện được triệu chứng đó có nghĩa là hiểm họa. Nạn nhân đột quỵ có thể bị tổn thương não nghiêm trọng nếu mọi người xung quanh không nhận biết được các triệu chứng đột quỵ.

Bạn hãy đọc và nhớ 3 bước gọi tắt là CNG bằng cách hỏi bệnh nhân 3 câu đơn giản sau:

C – Bảo người đó CƯỜI.
N – Bảo người đó NÓI chuyện và NÓI chữ A. NÓI CÂU ĐƠN GIẢN (một cách mạch lạc)
(Ví dụ: Canh cua cà, Món súp gà)
G – Bảo người đó GIƠ CẢ HAI TAY LÊN.

Nếu bệnh nhân gặp khó khăn với BẤT KỲ MỘT ĐIỀU NÀO trong số 3 điều đó, hãy gọi cấp cứu ngay và mô tả các triệu chứng cho người điều động cấp cứu.

Biểu hiện mới của đột quỵ – Hãy lè lưỡi ra


Hãy bảo người bệnh lè lưỡi ra. Nếu lưỡi bị “cong”, hoặc vẹo bên này vẹo bên kia thì đó cũng là dấu hiệu đột quỵ.


Một bác sỹ chuyên khoa tim nói, nếu mỗi người gửi thông tin này cho 10 người thì đảm bảo rằng ít nhất sẽ cứu được một người.


Tôi đã làm phần việc của tôi. Còn bạn ?

TDMVSK sưu tầm

by Tháng Tư 27, 2019 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình
Nguy hiểm của việc ăn cá sống

Nguy hiểm của việc ăn cá sống

Tại sao không nên ăn cá sống ?

Hãy nghe ngư dân Canada chia sẻ ‘những bí mật không thể kể’. 

Thông thường cá chỉ được ăn chín mà thôi, tuy vậy cũng có người thích dùng sống, thí dụ như hai món Sushi và Sashimi của Nhật Bản. Riêng tại Canada, các dân tộc thiểu số Indien và dân Eskimo cũng có tập quán ăn cá sống. Một vài loại sò biển cũng đôi khi cũng vậy. Chúng ta tự hỏi liệu điều này có nguy hiểm cho sức khỏe hay không?

Cá tôm và đồ biển là nguồn thực phẩm rất quý báu của con người. Ngoài chất đạm ra, thủy sản còn cung cấp cho chúng ta các chất khoáng (calcium, phosphorus) và vitamins (vitamin A và D). Chất béo omega-3 rất tốt cho sức khỏe, thấy hiện diện trong mỡ cá đặc biệt là trong các loại cá vùng nước lạnh, chẳng hạn như: mackerel, salmon, herring, tuna…

Canada có đường bờ biển dài nhất và cũng là một trong những quốc gia có nghề cá đứng hàng đầu. Môi trường thiên nhiên độc đáo đã tạo ra hương vị riêng cho hải sản của đất nước có biểu tượng hình Lá Phong này. Tuy nhiên, gần đây, một ngư dân khu vực này tiết lộ bí mật lớn trong nghề:

Mỗi miếng sashimi mà mọi người ăn vào miệng đều ẩn chứa những nguy hại lớn về sức khỏe.

Ngư dân chia sẻ “những bí mật không thể kể” trong nghề.

Theo chia sẻ của một ngư dân tới từ British Columbia, nhiều loại hải sản được dạt vào bờ ở vùng biển Canada có chứa một lượng lớn các loại ký sinh trùng. Dưới đây là những kinh nghiệm được ghi lại.

Hôm đó người dân Canada bắt được một con cá hồi rất lớn.

Ngư dân này từng đánh bắt cá ở các khu vực quanh bãi biển British Columbia. Nước biển trong vắt, môi trường biển tuyệt vời và không có ô nhiễm, đây là nơi mọi người thường đánh cá. Hôm đó là ngày may mắn bởi anh ấy đánh được một con cá hồi rất lớn. Rất lấy làm hào hứng về điều này, anh dự định sẽ xử lý qua một chút rồi chụp vài bức ảnh gửi cho bạn bè. Tuy nhiên, sau khi mổ bụng, anh ta phát hiện trên đầu cá có một vật thể màu đỏ không rõ hình dạng.

Để tìm hiểu, anh dùng một cây gậy nhựa chọc vào vật màu đỏ và phát hiện, ngoài 8 con ký sinh trùng này còn có những con khác hình sợi dài, màu hồng phấn này đang không ngừng tăng lên. Người ngư dân có lương tâm đã đấu tranh với lương tâm và tiết lộ bí mật này trên Facebook.

Nguy cơ nhiễm độc do ăn cá sống.

Cá có chứa nhiều axit béo không no (Omega 3), chất đạm, vitamin A, D, phốt pho, magiê, kẽm, iốt… rất tốt cho sức khỏe tim mạch, xương khớp, não bộ… Cơ quan Thực phẩm Dược phẩm Mỹ (FDA) khuyến cáo, mỗi người nên ăn 227 – 340g cá các loại (chia thành 2 – 3 bữa một tuần) trong tuần, sẽ có lợi cho sức khỏe.

Tuy nhiên, cá cũng dễ trở thành con dao hai lưỡi khi ăn không đúng cách hay ăn phải loại nhiễm, chứa độc chất. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo, ăn cá sống, hoặc chế biến chưa chín kỹ sẽ có nguy cơ cao nhiễm ký sinh trùng, vi khuẩn. Các loại cá cũng có thể chứa nhiều vi sinh vật sống cộng sinh, khi ăn sống chúng sẽ theo vào cơ thể gây ngộ độc.

Khi mổ cá anh phát hiện trong đó có 8 con ký sinh trùng.

Ngoài ra, cá cũng có thể bị nhiễm độc do môi trường nước ô nhiễm hoặc bị tẩm, ướp bởi chất bảo quản, hóa học giúp làm tươi hay giữ cá lâu hư vượt quá quy định. Nguy cơ nhiễm hay chứa loại kim loại nặng như: chì, crom, thủy ngân… ở loài thực phẩm này cũng rất cao. Thống kê của Viện Nghiên cứu Đa dạng Sinh học (Mỹ) cho thấy, đến 84% lượng cá trên thế giới chứa một lượng thủy ngân gây hại cho sức khỏe con người. Đặc biệt, những loài cá lớn, sống ở tầng biển sâu như: cá thu, ngừ, mập, kiếm… luôn có hàm lượng thủy ngân và kim loại nặng khác cao hơn các loài bé.

Bên cạnh việc có thể gây ngộ độc cấp như đau bụng, tiêu chảy, nôn ói…, các loại vi khuẩn, ký sinh trùng hay kim loại nặng từ cá xâm nhập vào cơ thể sẽ gây ra nhiều hậu quả lâu dài cho sức khỏe, đặc biệt tại gan. Bằng các nghiên cứu chuyên sâu, các nhà Khoa học đã phát hiện, độc chất từ cá sống một mặt sẽ trực tiếp kích hoạt Kupffer – loại tế bào miễn dịch nằm ở xoang gan, hoạt động quá mức, khiến tế bào này phóng thích ra các chất gây viêm như: TNF-α, TGF-β, Interleukin… gây tổn thương, hủy hoại tế bào gan.

Mặt khác, độc chất còn khiến gan phải làm việc liên tục khi thực hiện vai trò khử độc, làm sản sinh ra các sản phẩm trung gian tiếp tục kích hoạt quá mức tế bào Kupffer. Nó một lần nữa gây tổn thương tế bào gan nghiêm trọng hơn, khiến bộ phận này càng suy yếu và hư hại nhanh. Khi vai trò khử độc cùng nhiều vai trò quan trọng khác của gan suy yếu sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho toàn cơ thể.

Phương pháp diệt ký sinh trùng.

Theo các Chuyên gia tiêu hóa, những con giun này chết khi cá được nấu chín và không bị nhiễm ký sinh trùng. Họ cũng khuyến cáo nên làm nóng cá đến 145 độ F (khoảng 62 độ C) trong 15 giây để loại bỏ chúng. Thực tế, không cần phải lo lắng về việc phá hủy các chất dinh dưỡng trong cá hồi chín bởi chúng đều như nhau.

Nhưng nếu bạn phải ăn cá hồi sống thì sao? FDA khuyến cáo: Hãy chắc chắn ăn cá đã để đông lạnh. Nói một cách đơn giản: cá mua từ siêu thị là đông lạnh. Những con cá được đánh lên từ biển sâu nên nấu chín, và nhất định không được ăn sống.

Làm thế nào để biết cá hồi có tươi không?

Cho dù là cá hồi sống hoặc nấu chín, độ tươi và thành phần dinh dưỡng là rất quan trọng. Cá được đánh bắt cho tới bàn ăn phải qua rất nhiều công đoạn. Một số yếu tố sẽ ảnh hưởng đến độ tươi ngon của chúng chính là thời gian bảo quản, môi trường, nhiệt độ, đồ bảo quản… Nếu bạn ăn cá hồi không tươi, nguy cơ ngộ độc và nhiễm trùng do vi khuẩn và ký sinh trùng sẽ nhiều hơn. Để phán đoán xem cá có tươi không, hãy chú ý đến những điều sau:

Nếu mua cả con cá, trước tiên hãy nhìn vào da cá và vảy có còn nguyên vẹn và sáng bóng không. Mắt cá phải thật trong, mang cá màu đỏ tươi, không nát và lẫn lộn, ngửi mùi thấy có vị nước biển, không thối, ấn ngón tay để kiểm tra xem cá có đàn hồi không. Tốt nhất nên chọn cá hồi ướp lạnh có ngày sản xuất mới nhất, vì việc rã đông và tái đông sẽ ảnh hưởng đến hương vị của chúng.

Nếu bạn mua cá hồi cắt, nên chú ý đến màu sắc của chúng. Thịt cá hồi tươi có màu đỏ cam. Nếu màu trắng hoặc thâm, là chất lượng không tốt lắm. Cá hồi tươi sẽ có tính đàn hồi khi chạm vào, ấn xuống sẽ dần hồi phục. Loại không tươi sẽ ngược lại.

Ngoài ra, bề mặt của cá hồi tươi mọng nước, không khô, vì hàm lượng nước là một chỉ số quan trọng về độ tươi của cá hồi, nếu thấy những đốm nâu trên bề mặt và bên ngoài thì không nên mua.

TDMVSK sưu tầm.

by Tháng Tư 27, 2019 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Bí quyết sống khoẻ mạnh
Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe: Sau 18 thế kỷ vẫn còn vô cùng giá trị

Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe: Sau 18 thế kỷ vẫn còn vô cùng giá trị

Danh y Hoa Đà là 1 trong 4 nhân vật nổi tiếng nhất trong ngành Đông y TQ. 38 bí quyết này từng được xem là “phương châm sống thọ” của rất nhiều người. Bạn có thể tham khảo áp dụng.

Muốn sống khỏe mạnh thì phải dựa vào dưỡng sinh

Danh y Hoa Đà (145 – 208) là một thầy thuốc nổi tiếng thời cuối Đông Hán và đầu thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.

Ông được xưng tụng như một Thần y nổi tiếng không chỉ ở nội bộ đất nước Trung Quốc mà còn được biết đến rất nhiều trong các nước đồng văn hóa như Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc, được xem là một trong những ông tổ của Đông Y.

Ông cùng Đổng Phụng và Trương Trọng Cảnh được xưng tụng làm Kiến An tam Thần y, đồng thời cùng với Biển Thước, Trương Trọng Cảnh và Lý Thời Trân được xem là 4 vị đại danh y nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc nói riêng và các nước có nền Đông y phát triển nói chung.

Sau đây là 38 lời dạy của Hoa Đà về sức khỏe và dưỡng sinh, được người xưa coi là “bí quyếtvàng”. Nếu làm được, bạn sẽ hạn chế được bệnh tật phát sinh, cơ thể khỏe mạnh và tuổi thọ được kéo dài.

Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe: Sau 18 thế kỷ vẫn còn vô cùng giá trị - Ảnh 1.

Chân dung Danh y Hoa Đà

1,Tỏi là một kho báu quý giá, ăn chúng thường xuyên sẽ rất tốt sức khỏe.

2, Mỗi ngày ăn 2 quả táo, bệnh tật trong cơ thể sẽ không tìm đến bạn.

3, Mỗi ngày ăn một quả táo tàu, trường sinh bất lão không phải là chuyện xa vời.

4, Quả óc chó giống như một kho báu của núi rừng, ăn vào vừa bổ thận, vừa tốt cho não

5, Sắt không nấu chảy không thành thép, người không chăm sóc sức khỏe thì không thể khỏe mạnh

6, Cà rốt chính là “tiểu nhân sâm“, ăn thường xuyên sẽ có tinh thần và thể lực tốt.

7, Cà chua là trái cây có dinh dưỡng tốt, ăn vào sẽ trẻ đẹp và ít bệnh.

Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe: Sau 18 thế kỷ vẫn còn vô cùng giá trị - Ảnh 2.

8, Dưa chuột nhỏ là một kho báu cho sức khỏe, ăn hàng ngày có thể giúp giảm cân và dưỡng nhan rất tốt.

9, Ăn cần tây nhiều hơn mà không cần hỏi lý do, vì đây là thực phẩm hạ huyết áp rất hữu ích.

10, Hành lá chấm nước sốt, càng ăn càng béo.

11, Ăn một bát cháo đậu xanh vào mùa hè, là một bài “thuốc tiên” trong việc giải độc, thanh nhiệt, giảm nóng.

12, Buổi sáng ăn 3 lát gừng, tốt như việc uống canh nhân sâm.

13, Phụ nữ nên ăn ngó sen 3 ngày liên tiếp, nam giới nên ăn gừng 3 ngày liên tiếp.

14, Ba ngày không ăn thực phẩm màu xanh lá cây, hai mắt sẽ vàng đi.

15, Thà ăn cơm không có thịt, nhất định không được ăn cơm mà không có canh.

16, Ăn canh trước bữa ăn, tốt hơn so với uống thuốc.

Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe: Sau 18 thế kỷ vẫn còn vô cùng giá trị - Ảnh 3.

17, Ăn mì/miến nên ăn nhiều nước, để tránh việc (bác sĩ) phải khai đơn thuốc.

18, Buổi sáng ăn muối thì tốt, buổi tối ăn muối thì độc.

19, Thà thừa đồ ăn trong nồi, còn hơn tích đầy thức ăn trong dạ dày.

20, Mỗi bữa ăn nhịn đi một miếng (ý nói ăn ít) thì có thể sống đến 99 tuổi (ý nói sống thọ).

21, Thường xuyên ăn thực phẩm chay, giống như thường xuyên chăm sóc cái bụng của bạn (tốt cho đường tiêu hóa).

22, Thà không có thịt để ăn, chứ không thể thiếu đậu để ăn (ăn đậu tốt hơn ăn thịt).

23, Ăn cơm cho chút đường, vừa giàu dinh dưỡng vừa tốt cho sức khỏe.

24, Phải ăn sáng cho tốt, ăn trưa cho no, ăn tối cho khéo.

25, Ăn quá nhiều sẽ bị bệnh, ăn uống đúng mức, đúng giờ, đúng tiêu chuẩn thì sẽ an toàn sức khỏe.

26, Ăn uống vội vàng, nuốt thức ăn thô (không nhai kỹ) thì sẽ làm tổn thương dạ dày, gây hại đường ruột.

27, Nếu bạn muốn khỏe mạnh, thức ăn nên được nhai thành bột giấy (ăn chậm nhai kỹ trước khi nuốt).

28, Nếu bạn muốn bách bệnh tiêu tan, nên ăn uống để đói 3 phần (ý khuyên ăn no 70% nhu cầu).

29, Cứ để nước mắt chảy, bệnh tự nhiên sẽ giảm nhẹ (ý nói về tác dụng của khóc, không nên kìm nén cảm xúc).

30, Bậc trượng phu cũng có lúc phải rơi nước mắt, anh hùng bị chảy máu cũng phải rơi lệ (ý nói không nên kìm nén đau đớn, ngăn chặn cảm xúc tự nhiên).

Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe: Sau 18 thế kỷ vẫn còn vô cùng giá trị - Ảnh 4.

31, Trong giấc ngủ, nên để cho trái tim ngủ trước, đôi mắt ngủ sau (thư giãn tinh thần trước khi ngủ).

32, Dùng thuốc bổ hay thực phẩm bổ, cũng không bằng việc làm cho trái tim khỏe.

33, Cơm chăm sóc cơ thể, âm nhạc lời ca chăm sóc trái tim và tâm hồn.

34, Mang trong mình một trái tim trẻ trung, cả đời bạn sẽ không biết đến sự già nua. Tâm hồn vui vẻ thì nhan sắc thanh xuân.

35, Một nụ cười có thể trẻ ra 10 tuổi.

36, Mỗi ngày cười 3 lần, khó khăn nào cũng qua, tuổi già sẽ chậm đến.

37, Thường xuyên mở miệng cười tươi, thanh xuân luôn tồn tại trên khuôn mặt bạn.

38, Một tiếng kêu khóc sẽ giúp bạn loại bỏ u sầu.

Danh y Hoa Đà đúc kết 38 bí quyết vàng về sức khỏe: Sau 18 thế kỷ vẫn còn vô cùng giá trị - Ảnh 5.

Trên đây là những lời khuyên của Danh y Hoa Đà dành cho người dân cách đây đã hơn 18 thế kỷ, tuy nhiên cho đến nay, hầu như chúng vẫn còn giá trị khoa học và ứng dụng rất cao. Nếu cảm thấy bổ ích, hãy chia sẻ cho bạn bè của bạn cùng tham khảo.

TDMVSK sưu tầm.

by Tháng Chín 8, 2018 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Tài liệu Bệnh & Chương trình
Dịch Cân Kinh Tổng Hợp

Dịch Cân Kinh Tổng Hợp

Dịch Cân Kinh (phiên âm “Yin Jin Ching”) là gì ? Dịch là thay đổi, Cân là gân cốt, Kinh là bài học quí giá.

Dịch Cân Kinh chỉ cho ta phương pháp luyện tập gân cốt và ý chí chuyển yếu thành mạnh, là phương pháp kết hợp nguyên tắc Thiền và động tác (Động và Tỉnh), giữa Cương và Nhu, giữa Thần và Khí (Tâm và Hơi thở), giữa Khí và Lực (Hơi thở và Sức mạnh).
Năm 917 (sau Tây lịch), Đạt Ma Tổ Sư Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp và truyền giáo, sau ở lại Trung Sơn, Hà Nam, xây dựng chùa Thiếu Lâm, đã có nhiều đệ tử nhập môn học Phật để mai sau đi truyền giáo. Ông nhận thấy nay đem một tín ngưỡng đi truyền tụng có khi trái với tín ngưỡng của dân bản xứ, dễ xảy ra xung đột. Do vậy các đệ tử của ông vừa lo học lý thuyết Phật Pháp vừa phải luyện võ để tự vệ (Môn phái Thiếu Lâm xuất hiện và tồn tại đến ngày nay).

Nhiều người xin nhập môn nhưng thể lực kém, không thể luyện võ được, Tổ Sư bèn truyền đạt một phương pháp luyện tập được gọi là Đạt Ma Dịch Cân Kinh để chuyển biến thể lực yếu kém thành mạnh khỏe. Cách tập đơn giản nhưng hiệu quả to lớn vì tiêu trừ được các bịnh tật hiểm nghèo.
Ngày nay người ta nghiên cứu là phương pháp này chữa được rất nhiều bịnh, ngay cả bịnh ung thư, tiểu đường cũng khỏi và bây giờ người ta áp dụng lý thuyết khí huyết của Đông y để chứng minh. Sức khỏe của con người liên quan chặt chẽ với khí huyết, về điều này thì ta thấy rõ ràng.

Trong Đông y, cái gọi là huyết thì không thể hạn chế và tách ra từng mặt như máu loãng hay đặc, hồng cầu nhiều hay ít, sắc tố như thế nào… mà nghiên cứu, mà dùng cách nhìn nhận toàn diện của quá trình sinh lý và quá trình tuần hoàn của huyết mà xem xét. Theo Đông y, một khi khí huyết không thông là tắt kinh lạc, do vậy các phế vật trong cơ thể cần thải mà không thải ra được. Vì máu lưu thông chậm, nên các chất keo, dịch, gân và các chất khô… không đủ nhiệt năng nên công năng của máu giảm sút không thể thải được những chất cần thiết trong cơ thể ra ngoài.
Luyện Dịch Cân Kinh, tay vẫy đúng phép, miệng, dạ dày mở, máu mới sinh ra nhiệt năng đầy đủ, làm các vật chèn ép mất thăng bằng trong cơ thể bị xóa bỏ thì mới khỏi bịnh.
Vậy theo Dịch Cân Kinh, cơ hoành lên xuống dễ dàng, ruột, dạ dày, thận tiếp được khí nên gây được tác dụng hưng phấn. Khi chức năng của máu tăng, thì giúp được việc tống cựu nghinh tân tốt, khí huyết thăng bằng là khỏi bịnh. Một số người sau đây đã luyện tập Dịch Cân Kinh có hiệu quả:
Cụ Quách Chu, 78 tuổi, phát hiện u ở não và ở phổi. Luyện tập ngày ba buổi. Mỗi buổi 1800 lần. Tập đều sau ba tháng thì tan khối u và khỏi bịnh.
Ông Trương Công Phát,43 tuổi, phát giác ung thư máu, luyện tập Dịch Cân Kinh ngày 3 buổi, mỗi buổi 4800 lần (có dùng dưỡng tâm can), sau ba tháng khỏi bịnh. Đã ba năm nay vẫn khỏe mạnh.
Cụ Từ Mạc Đính, 60 tuổi, ung thư phổi, và bán thân bất toại. Luyện tập sau 3 tháng thì hết bán thân bất toại, kiểm tra khối u cũng tan mất.
Nguyên nhân bịnh ung thư trên thế giới đang bàn cãi, ngay thuốc dưỡng tâm can cũng không phải là thuốc đặc hiệu chữa trị mà là giúp tim hoạt động tốt để thải chất độc.
Vì quá trình sinh lý cơ thể của con người là một quá trình phát triển, nó mang một nội dung đấu tranh rất phức tạp giữa cái sống và sự chết. giữa lành mạnh và bịnh tật, giữa già háp và trẻ dai. Nhưng kết quả cuộc đấu tranh là các nhân tố nội tại quyết định chớ không phải do hoàn cảnh bên ngoài.
Vậy cơ thể con người là một chỉnh thể hoạt động. Trong vận động các lục phủ ngũ tạng đều dựa vào nhau tức là tương sinh, ức chế lẫn nhau tức là tương khắc. Nhưng khí huyết có tác dụng đến khắp tất cả các lục phủ ngũ tạng, cho nên việc phát sinh bịnh ung thư cũng do khí huyết lưu thông không chu đáo mà ra. Đông y đã xác định là cuộc đấu tranh của cơ thể với bịnh ung thư là một cuộc đấu tranh nội bộ ở trong cơ thể con người. Từ đó mà xây dựng quan điểm cho rằng bịnh ung thư là bịnh chữa được.
Đương nhiên bịnh tật là do sự trì trệ khí huyết mà nó làm cho hao tổn thêm khí huyết. Vậy công việc luyện tập cho khí huyết thay đổi là tự chữa được bịnh. Từ đó mà tạo được lòng tin vững chắc của người bịnh đối với việc tự chữa được bịnh ung thư, để tập trung tinh thần và ý chí đầy đủ để luyện tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh, vì phương pháp này thay đổi và tăng cường khí huyết. Nó cũng chữa được bịnh trĩ nội và trĩ ngoại. Ông Hà Thúc Nguyên bị trĩ nội và chứng đầy bụng, chỉ tập một tháng là khỏi. Luyện tập Dịch Cân Kinh thấy ăn tốt ngủ ngon là việc phổ biến tốt, đã làm tăng sức khỏe các bịnh nhân nói chung và chữa được nhiều chứng bịnh như : suy nhược thần kinh, cao huyết áp, bịnh tim các loại, bán thân bất toại, bịnh thận, hen suyễn, lao phổi, trúng gió méo mồm và lệch mắt.
Đông y cho rằng vấn đề cơ bản của bịnh tật là do khí huyết (âm, dương) mất thăng bằng mà sanh ra. Luyện Dịch Cân Kinh là giải quyết vấn đề này. Nên đối với đa số các loại bịnh, nhất là bịnh mãn tính đều có thể chữa được cả.

Phương Pháp Luyện Tập Dịch Cân Kinh
Đầu tiên là nói về tư tưởng:
Phải có hào khí, nghĩa là có quyết tâm luyện tập cho đến nơi đến chốn, vững vàng, tin tưởng, không vì lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở.
Phải lạc quan, không lo sợ đang mang bịnh mà mọi người gọi là hiểm nghèo, phải tin tưởng rằng mình sẽ thắng bịnh do việc luyện tập Dịch Cân Kinh.

  1. Tư Thế Luyện Tập:Đầu treo lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng thẳng, thắt lưng mềm dẻo, hai cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay mềm, hai bàn tay ngửa ra phía sau xòe ra như cái quạt. Trong khi vẫy, hậu môn phải thót, gót chân lỏng, bàn chân phải cứng, các ngón chân bám chặt như bám trên đất trơn. Đây là những quy định cụ thể của các yêu cầu cơ bản khi tập luyện Dịch Cân Kinh.
  2. Dựa theo yêu cầu này,khi tập vẫy tay thì cơ hoành trở lên phải giữ cho được trống không, buông lỏng, thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc luyện tập. Xương cổ buông lỏng để có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhiên, không mím môi, ngực trên buông lỏng để phổi tự nhiên. Hai cánh tay để tự nhiên giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám sát mặt đất, gót chân để phẳng lên mặt đất. Bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương sống thẳng như cây gỗ. Khi vẫy tay nhớ nhẩm câu: “Lên có xuống không”. Nghĩa là lấy sức vẫy tay về phía sau, khi tay trả lại phía trước là do quán tính, không dùng sức đưa tay ra phía trước (xuống).
  3. Trên ba dưới bảy:Là phần trên để lỏng độ ba phần khí lực, phần dưới lấy gân sức độ bảy phần khí lực. Vấn đề này quán triệt đầy đủ thì hiệu quả sẽ tốt.
  4. Mắt nhìn thẳng:không nghĩ ngợi gì cả, miệng nhẩm đếm số lần vẫy.

Các bước tập cụ thể như sau :
a) Đứng hai bàn chân bằng khoảng cách hai vai.
b) Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, các ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay ra phía sau.
c) Bụng dưới thót lại, lưng thẳng. Bụng trên co lại, cổ để lỏng, đầu và miệng bình thường.
d) Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót sát đất, bắp chân và đùi chân căng thẳng.
e) Hai mắt chọn một điểm ở đàng xa làm mục tiêu để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, luôn chú ý vào các ngón chân đang bám đất. Đùi và bắp chân cứng. Thót hậu môn thật chặt và nhẩm đếm.
f) Dùng sức vẫy hai tay về phía sau, khi trả hai bàn tay về phía trước, chú ý để nó buông theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức. Tuy nhiên chân vẫn lấy gân cứng lên, hậu môn vẫn thót và co lại không lơi lả.
g) Vẫy tay từ 200, 300, 400, 500, 600, 700 lần, dần dần tăng lên đến 1800 lần vẫy (tương đương với 30 phút).
h) Phải có quyết tâm đều đặn tập trung vào sự luyện tập, không nên nóng, tập nhanh, tập nhiều vì dục tốc bất đạt. Nhưng cũng không nên tùy tiện, bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì như vậy sẽ làm mất lòng tin trong sự luyện tập, khó có hiệu quả.

Bắt đầu tập luyện, không nên làm tổn thương các ngón chân (Sau mỗi buổi tập, vuốt ve các ngón chân mỗi ngón chín lần). Nôn nóng muốn khỏi bịnh này mà dùng nhiều sức sẽ không đem lại kết quả. Có quyết tâm nhưng phải từ từ tiến dần mới đúng cách và kết quả tốt. Nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán thì khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến “trên nặng dưới nhẹ” là sai hỏng.
Khi đã vẫy tay đến 600 lần trở lên thì thường hay có trung tiện (đánh địt), hắt hơi và hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng….. chỉ là hiện tượng bình thường, đừng lo ngại. Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với vũ trụ là “Thiên khinh Địa trọng” (Trên nhẹ dưới nặng), đấy là quy luật sinh hợp với vũ trụ: Thiên khinh Địa trọng.
Sở dĩ bịnh gan là do khí huyết của tạng gan không tốt gây nên khi bị tích lũy làm cho gan khó bài tiết. Do đó ảnh hưởng đến ống mật và cả tỳ vị. Luyện Dịch Cân Kinh có thể giải quyết được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện là kết quả tốt.
Về bịnh mắt, luyện Dịch cân kinh là có thể khỏi chứng đau mắt đỏ với các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí chữa được cả chứng đục thủy tinh thể. Trong nội kinh có nói mắt nhờ huyết mà nhìn được. Khi khí huyết không dẫn đến được các bộ phận của mắt thì thường sinh ra các bệnh tật của mắt.
Đôi mắt là bộ phận của thị giác và cũng là bộ phận quan trọng của cơ thể.

Những Phản Ứng Khi Luyện Tập Dịch Cân Kinh
Khi luyện tập, cơ thể có những phản ứng nhưng tất cả đều là hiện tượng thải bịnh, không nên lo nghĩ. Sau đây là 34 phản ứng thông thường và còn nhiều phản ứng khác không kể ra hết được.

  1. Đau buốt, 2. Tê dại, 3. Lạnh, 4. Nóng, 5. Đầy Hơi, 6. Sưng
  2. Ngứa, 8. Ứa nước giải, 9. Ra mồ hôi, 10. Cảm giác như kiến bò
  3. Giật gân, giật thịt, 12. Đầu khớp xương có tiếng kêu lụp cụp
  4. Cảm giác máu chảy dồn dập, 14. Lông tóc dựng đứng
  5. Âm nang to lên, 16. Lưng đau, 17. Máy mắt mi giật
  6. Đầu nặng, 19. Hơi thở nhiều, 20. Nấc, 21. Trung tiện
  7. Gót chân nhức như mưng mủ, 23. Cáu trắng dưới lưỡi24. Đau mỏi toàn thân, 25. Da cứng, da chân chai rụng đi,
  8. Sắc mặt biến đi,27. Huyết áp biến đổi, 28. Đại tiện ra máu,
  9. Tiểu tiện nhiều, 30. Nôn mửa, ho, 31. Bịnh từ trong da thịt bài tiết ra,
  10. Trên đỉnh đầu mọc mụt, 33. Ngứa từng chỗ hay toàn thân,
  11. Chảy máu cam.
    Các phản ứng trên đây là do trọc khí bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ các thứ ứ đọng gọi là bịnh tật. Khi có sự phản ứng là có sự xung đột giữa chánh khí và tà khí, nếu ta vẫn tập luyện sẽ sản sinh ra các chất bồi bổ có lợi cho chánh khí. Ta tập đúng cách và làm tăng sức đề kháng, nó đẩy cặn bã trong cơ, gan, thần kinh và các tế bào khác mà mạch máu lưu thông bình thường không thải nổi.
    Nhờ luyện tập Dịch Cân Kinh mà khí huyết lưu thông mới đưa nổi cặn bã ra ngoài nên mới sinh ra phản ứng. Vậy không nên lo sợ, cứ tiếp tục tập như thường. Có một phản ứng hiển nhiên là đã khỏi một căn bịnh. Cứ tập luyện đều đặn sẽ đạt hiệu quả tốt.

Luyện tập dịch cân kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau
1-Nội trung:
Tức là nâng cao can khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết. Thông khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu.
2-Tứ trưởng tố:
Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc luyện tập. Tứ trung tố song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.
3-Ngũ tam phát:
Nghĩa là 5 trung tâm của nhiệt dưới đây hoạt động mạnh hơn lúc bình thường. Đó là :
4-Bách Hội: Một huyệt trên đỉnh đầu,
Gio cung: huyệt ở hai bàn tay,
Dũng tuyền: huyệt ở hai gan bàn chân.
Khi luyện tập thì 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt . Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả, nó làm tăng cường thân thể, tiêu trừ các bịnh nan y mà ta không ngờ.
Lục phủ minh:
Đó là ruột non. ruột già, mắt, dạ dày, bong bóng tam tiêu sẽ thông suốt, nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi nên không trì trệ, ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.

Một số điều cần lưu ý khi luyện tập:

  1. Số lần vẫy tay: không dưới 800 lần, từ 800 lần trở lên dần dần đến 1800 lần (khoảng 30 phút) mới tới ngưỡng cửa của điều trị. Người bịnh nặng có thể ngồi mà vẫy tay, tuy nhiên phải nhớ thót hậu môn và bấm 10 đầu ngón chân.
  2. Số buổi tập: Sáng thành tâm tập mạnh, Trưa trước khi ăn tập vừa. Tối trước khi ngủ tập nhẹ.
  3. Có thể tập nhiều tùy theo bịnh trạng: Có những bịnh nhân nâng số lần vẫy tay lên đến 5 hay 6 ngàn lần trong mỗi buổi tập. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon ngủ tốt, tiểu và đại tiện thấy điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ số lần vẫy tay khi luyện tập là thích hợp.
  4. Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm. Bình thường thì vẫy 1800 lần là hết 30 phút. Vẫy lúc sau hơi nhanh hơn lúc đầu một chút. Khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng. Bịnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều hơn. Bịnh nặng thì nên vẫy hẹp vòng và chậm, bớt dùng sức. Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh, mau mệt, mà chậm quá thì không đạt tới mục đích. Vì luyện tập là cần có mạch máu lưu thông.
  5. Khi vẫy tay dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ: Vẫy tay là môn thể dục chữa bịnh chớ không phải là một môn thể thao khác biệt. Đây là môn thể dục mềm dẻo, đặc điểm của nó là dụng ý không dùng sức, nhưng nếu vẫy tay nhẹ quá cũng không tốt, bởi vì bắp vai không lắc mạnh thì lưng và ngực không chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm đi. Vẫy tay không chỉ có chuyển động cánh tay mà chính yếu là chuyển động hai bắp vai. Bịnh phong thấp thì nên dùng sức ở mức nặng một chút. Bịnh huyết áp thì nên dùng sức ở mức nhẹ và vẫy tay chậm.
    Nói tóm lại phần lớn tự mình nắm vững tình trạng, phân tích các triệu chứng sau khi nghe sự nhận xét của mọi người, tự mình cảm nhận sự biến chuyển trong cơ thể: nhanh nhẹn, hồng hào, tươi tỉnh hay là xấu hơn trước. Tự mình suy nghĩ rồi quyết định cách tập trên nguyên tắc là tập thế nào cho cảm thấy thoải mái, dễ chịu là đúng, là tốt nhất. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích (ích lợi cho cơ thể), còn động tác mạnh là loại bỏ các chất cặn bã có hại cho cơ thể (bệnh tật). Lý luận này đang được nghiên cứu.
    Khi vẫy tay về phía sau dùng sức bảy phần. Khi vẫy tay về phía trước thuộc về quán tính, còn chừng 5 phần.
    Đếm số lần vẫy tay, đếm không phải để nhớ mà có tác dụng làm cho đầu óc bình tỉnh, có tác dụng tốt cho não được căng thẳng và không nghĩ ngợi lung tung. Chân âm được bồi dưỡng.
    Hoàn cảnh khi luyện tập (nơi chốn): Không có khác biệt, ở nơi đâu cũng tập được. Dĩ nhiên nơi nào không khí trong lành và yên tĩnh vẫn tốt hơn.
    Trước và sau khi tập: Trước khi tập, đứng bình tỉnh cho tim được thoải mái, đầu óc được yên tĩnh để chuyển hóa về tâm lý và sinh lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng, thoải mái như trong môn khí công. Sau khi tập cũng phải bình tĩnh vê 10 đầu ngón tay và 10 đầu ngón chân đủ 9 lần. Người không đủ bình tĩnh, nên cần chú ý đến điểm này,
    Luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép: Sau khi tập thấy ngứa và bụng nhẹ nhàng, hơi thở điều hòa, mắt sáng, nước giải ứa ra nhiều, đại tiện dễ dàng, ăn ngon ngủ tốt, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đó là đã luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép. Sau khi luyện tập, đa số thấy có phản ứng, nhưng về hiệu quả thì rất khác nhau. Nguyên nhân chính là khi tập, tư thế có thích hợp với người tập hay không.
    Khi tập cần chú ý các điểm sau đây:

Nửa thân trên buông lỏng (thượng hư).

  • Nửa thân dưới giữ chắc, căng mạnh (hạ thực),
  • Khi tay trả về phía trước, không dùng sức (nhẹ),
  • Tay vẫy về phía sau, dùng sức (nặng, mạnh),
  • Mỗi lần tập tăng dần số lần vẫy tay.
    Tập ngày 3 buổi, kiên quyết tự chữa bịnh cho mình.
  1. Sự liên quan giữa tinh thần và hiệu quả khi tập luyện: Hết lòng tin tưởng, kiên quyết tới cùng. Tập đủ số lần nhứt định, tập thường xuyên thì hiệu quả rất tốt. Nếu khi tập khi nghỉ, không đủ số lần tập nhất định, trong lòng còn nghi hoặc, bị động theo dư luận, thấy phản ứng lo sợ vội bỏ tập thì nhất định không hiệu quả.
  2. Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không ? Có thể sinh bịnh do tư thế không đúng, làm sai nguyên tắc. Nhưng trong trường hợp này cũng hãn hữu, không tới 1%.
  3. Khi tập nên tránh đứng đầu ngọn gió cả mùa hè lẫn mùa đông. Tóm lại cần lưu tâm những điểm sau:
    Khi tập luôn bám chặt các ngón chân vào mặt đất.
    Thót hoặc co hậu môn thật mạnh để giữ thế “thượng hư hạ thật”.
    Vẫy tay từ ít tới nhiều và phải đạt 1800 trở lên mới có hiệu quả.
    Khi gặp phản ứng đừng ngại, đó là diễn biến tốt, cứ tập số lần như cũ. Khi hết phản ứng sẽ tăng số lần vẫy tay lên.
    Giữ vững lòng tin, kiên trì quyết tâm tin tưởng, tập luyện tới cùng, chắc chắn sẽ đẩy lùi các bịnh tật ta đang mắc phải.
    Luyện tập Dịch Cân Kinh không chỉ chữa khỏi bịnh mà còn là một phương pháp phòng bịnh rất hữu hiệu.


TDMVSK sưu tầm


by Tháng Tám 20, 2018 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Bí quyết sống khoẻ mạnh, Tài liệu Bệnh & Chương trình
Mè rang và chứng tiểu tiện ban đêm

Mè rang và chứng tiểu tiện ban đêm

Các anh chị,

Trước đây tôi thường ngủ ngon từ 10 giờ tối đến 5 giờ sáng. Nhưng mấy năm gần đây giấc ngủ chập chờn, khô khan và gián đoạn vì phải thức giấc 2 hay 3 lần (có khi đến 4 lần) để dùng phòng tắm. Vì thức dậy liên tiếp nên rất khó ngủ lại, rồi cả ngày buồn ngủ, mệt nhọc.

Mới đây, trong câu chuyện về các chứng bệnh của người già, chị Hạnh — người đẹp của anh Tài, hội viên hội Vietnam Healing Foundation — nói rằng người lớn tuổi ăn một ngày 3 muỗng cà phê mè rang (nguyên hột, không muối, không đường) sẽ khỏi phải thức giấc tiểu tiện ban đêm.

Chị Hạnh là người thành thật và khả kính, nhưng tôi vốn không tin mấy phương thuốc ngoại khoa, nhất là các “bí quyết gia truyền” phổ biến trên mạng Internet từ các thầy lang trong nước. Tuy vậy, nhà có sẵn mè và theo tôi biết mè rất lợi ích cho sức khỏe, nên tôi (và bà xã) thử áp dùng phương pháp chị Hạnh bày Tin vui là phương pháp đó rất hiệu quả. Tôi muốn viết thư ngay để cảm ơn chị Hạnh và chia xẻ với các anh chị nhưng ngại rằng hiệu quả đó có thể nhất thời, cá biệt, do thể chất của tôi hay phản ứng hóa học giữa mè và mấy thứ đồ ăn nào đó.

Tôi nghĩ tôi nên chờ đợi. Gần ba tháng trôi qua, mè rang vẫn hữu hiệu với gia đình tôi. Những buổi chiều tập thể dục, cắt cỏ, hay đánh tennis tôi uống nhiều nước, có khi cả đến hai chai, mè rang vẫn hữu hiệu. Cảm ơn chị Hạnh.

Các anh chị thử dùng mè rang. Ước mong mè rang hữu hiệu trong trường kỳ và không có phản ứng phụ bất lợi nào hết.

NỘI DUNG CHI TIẾT

Hạt vừng hay được gọi là hạt mè với nhiều loại, phổ biến là vừng vàng, vừng trắng và vừng đen. Hạt vừng có một hồ sơ dinh dưỡng rất kinh ngạc. Ngoài những vitamin thì trong hạt mè còn chứa lượng lớn các khoáng chất tự nhiên và các hợp chất hữu cơ bao gồm canxi, sắt, magiê, phốt pho, mangan, đồng, kẽm, chất xơ, thiamin, vitamin B6, axit folic, protein, và tryptophan. Do vậy mà những lợi ích mà hạt vừng mang lại cho sức khỏe cũng vô cùng lớn.

1. Huyết áp

2. Phòng chống ung thư

http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/22_05_2013_10_48_bigstock_sesame_oil_4353578_1383401363.jpg

3. Kiểm soát bệnh tiểu đường

4. Đường tiêu hóa

http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/_vyrn_127sezam_1383401749.jpg

5. Sức khỏe xương

6. Chống viêm nhiễm

http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/sesamealmondcrackers_1383401061.jpg

7. Bảo vệ dưới các tác nhân bức xạ

8. Sức khỏe răng miệng

http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/truth_about_oil_pulling_sesame_seeds_oil_image_1383401472.jpg

9. Da và tóc

10. Chức năng chuyển hóa

http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/20130107_cookiemonster_raw_honey_date_sesame_ball_cookies_1383400956.JPG

11. Lưu ý

Nếu như ăn quá nhiều hạt mè có thể gây khó chịu ở dạ dày và ruột kết. Tuy nhiên, những việc này chỉ xảy ra khi ăn với lượng rất lớn.

TDMVSK sưu tầm

by Tháng Tám 6, 2018 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Bí quyết sống khoẻ mạnh, Tài liệu Bệnh & Chương trình
ÍCH LỢI TRỊ BỆNH CỦA QUẾ VÀ MẬT ONG

ÍCH LỢI TRỊ BỆNH CỦA QUẾ VÀ MẬT ONG

Lợi ích của Mật Ong và Quế

Theo bài đăng trên tạp chí “Tin tức thế giới hàng tuần” – Weekly World News – ngày 17-1-1995 xuất bản tại Canada, đã liệt kê một số các chứng bệnh được chữa khỏi (cured) bởi hỗn hợp mật ong và bột quế, được các nhà khoa học Phương Tây nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến ra công chúng. Theo họ thì mật ong đã được khắp thế giới biết và được xử dụng như là 1 loại dược chất sinh học (Vital medicine) từ nhiều thế kỷ trước. Ngày nay, qua khảo sát và nghiên cứu kiểm chứng, các khoa học gia đã nhận thấy và chấp nhận mật ong là 1 loại dược chất chữa được nhiều chứng bệnh.

Chữa Bệnh Bằng Quế và Mật ong Read More ›

by Tháng Bảy 6, 2018 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Tài liệu Bệnh & Chương trình, Ung thư
Đậu bắp tốt như nhân sâm nhưng rẻ như rau

Đậu bắp tốt như nhân sâm nhưng rẻ như rau

ĐẬU BẮP TỐT NHƯ NHÂN SÂM NHƯNG RẺ NHƯ RAU

Báo Phụ Nữ Hôm Nay / Phunutoday

Một người rất đau khổ vì bệnh táo bón từ 20 năm nay, gần đây lại thêm bệnh ợ chua. Anh không biết có một cách trị bệnh thật đơn giản – đó là đậu bắp (Okra). Anh bắt đầu ăn đậu bắp từ 2 tháng nay và từ đó không phải dùng thêm một thứ thuốc nào khác. Mỗi ngày, anh ăn 6 trái đậu bắp.

Anh trở lại bình thường với lượng đường trong máu giảm từ 135 xuống 98 , kiểm soát được cả độ cholesterol lẫn bệnh ợ chua.

Mặc dù nguyên nhân của sự thuyên giảm tình trạng bệnh không hoàn toàn được khẳng định là do đậu bắp hay không, nhưng hiện tại rất nhiều nghiên cứu cho rằng đậu bắp giúp cơ thể tự “dọn dẹp” rất hiệu quả.

Để “dọn dẹp” cơ thể, chỉ cần 2 trái đậu bắp, mỗi trái cắt làm 3 khúc rồi bỏ vào tô sạch nghiền nát, đổ vào một ly nước và ngâm qua đêm. Sáng hôm sau, trước bữa điểm tâm, khuấy đều và uống. Mỗi tuần uống 3 lần như vậy sẽ giúp cơ thể loại bỏ độc tố, điều hòa cholesterol, giải độc tố trong thận… Read More ›

by Tháng Bảy 4, 2018 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Tài liệu Bệnh & Chương trình
Đây là thứ tiêu diệt tế bào ung thư mạnh hơn nhiều so với hóa trị

Đây là thứ tiêu diệt tế bào ung thư mạnh hơn nhiều so với hóa trị

Đây là thứ tiêu diệt tế bào ung thư mạnh hơn nhiều so với hóa trị
2512 1 YH TieuDietTBUngTHUNgThangST

Tiến sĩ còn tiết lộ thêm, các bệnh nhân không áp dụng phương pháp xạ trị, hóa trị có tuổi thọ dài gấp 4 lần bệnh nhân áp dụng phương pháp này.
Read More ›

by Tháng Sáu 6, 2018 Comments are Disabled Bệnh & Chương trình, Ung thư

10 di chứng tai hại của rượu bia

10 di chứng mà rượu bia gây ra cho cơ thể

Vui cũng uống, buồn cũng uống… kiểu gì dân nhậu sáng tạo ra vô số lý do để cạn chén. Bạn uống bao nhiêu cũng được, nhưng trước hết hãy điểm danh 10 hậu quả mà rượu bia sẽ để lại. Tất nhiên danh sách này chỉ là một phần nổi cộm của vấn đề.

Nhiều người sẽ nghĩ ngay rằng, cùng lắm thì say xỉn, nhức đầu, nôn ói và mệt mỏi. Ngủ một giấc là xong, nhưng không chỉ vậy, rượu bia còn tác động đến hàng loạt cơ quan trong cơ thể, để lại nhiều di chứng nguy hại tới sức khỏe và thậm chí là tính mạng.

  1. Vô sinh và sảy thai

Rượu có thể ảnh hưởng không tốt đến chức năng năng sinh sản của nam giới, nó gây rối loạn cương dương tạm thời. Nhiều người cảm thấy hưng phấn sau cơn nhậu nhưng thực ra rượu làm giảm nồng độ hormon nam tính testosterol, dẫn đến suy giảm khả năng sinh lý, gây độc đối với tinh hoàn, do đó làm tổn thương tinh trùng hoặc khiến chúng không “chạy” tới trứng được, nên ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.

Nữ giới cũng không ngoại lệ. Uống rượu cũng làm giảm khả năng sinh sản của phái nữ, dù là uống lượng nhỏ rượu. Vấn đề này các nhà khoa học chưa rõ nguyên nhân vì sao.

Uống nhiều rượu kéo dài cũng ảnh hưởng đến kinh nguyệt hoặc làm ngừng rụng trứng. Những phụ nữ uống nhiều rượu khi mang thai cũng dễ bị sảy hơn.

  1. Tăng nguy cơ 7 loại ung thư

Theo giáo sư Linda Bauld thuộc Trung tâm nghiên cứu thuốc lá và rượu Anh Quốc, thì có bằng chứng xác đáng cho thấy rượu làm tăng nguy cơ mắc một số loại ung thư như vòm họng, thực quản, gan, ruột và ung thư vú. Chỉ uống một chai rượu mỗi tuần cũng tăng khả năng mắc ung thư vú lên 10%.

Những đồ uống có cồn như rượu, bia khi vào cơ thể thì sẽ được giáng hóa ở gan và tạo thành chất độc hại là acetaldehyde, chất này làm tổn thương ADN của tế bào, do vậy làm tăng nguy cơ mắc ung thư.

  1. ‘Cõng rắn vào nhà’

Bạn thấy người ta dùng thuốc để ngâm rượu, ngoài việc chiết xuất các hoạt chất từ thuốc, chất cồn trong rượu còn dẫn đường cho thuốc tác dụng nhanh. Tuy nhiên có lợi thì có hại, rượu kết hợp với các tác nhân gây ung thư khác, ví dụ các chất độc trong thuốc lá, trong thực phẩm, khiến nguy cơ ung thư có thể tăng lên nhiều lần.

  1. Sát thủ hại gan

Gan là đơn vị “tổng quan năng lượng”, là kho dự trữ quân nhu của quốc gia cơ thể. Cũng như tim và thận vậy, chúng ta có thể thiếu lách, thiếu dạ dày, nhưng không thể thiếu gan hay tim, thận.

Gan còn phải hóa giải độc tố, đứng mũi chịu sào phân giải rượu. Lao lực nhiều, uống rượu bia nhiều có thể khiến gan nhiễm mỡ. Những người uống rượu thường xuyên thường có gan nhiễm mỡ, suy giảm chức năng gan.

Có một tỷ lệ người uống rượu hình thành các sẹo xơ trong gan, rồi dẫn đến xơ gan, một loại tổn thương gan tiến triển, không thể đảo ngược lại được, cuối cùng dẫn đến mất hoàn toàn chức năng gan. Bệnh nhân xơ gan cũng bị các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng khác như nôn ra máu, nhiễm trùng dịch cổ trướng.

  1. Tăng tốc lão hóa

Các tay nhậu sẽ thấy rằng, chỉ cần ngừng uống chắc chắn trông bạn sẽ trẻ đẹp hơn. Rượu gây lợi tiểu, do đó làm cơ thể, cũng như làn da bị mất nước. Điều này có ảnh hưởng ngay tức thì và kéo dài đối với làn da và tóc.

Mất nước khiến da khô và tóc xơ dễ gãy, đồng thời uống quá nhiều rượu làm cạn kiệt sắt trong cơ thể, khiến làn da bạn xanh sao, thiếu sức sống, tóc dễ gãy rụng hơn.

Bởi cồn làm cạn kiệt vitamin C và vitamin A của cơ thể, nên làn da cũng kém hồi phục trước những tác nhân lão hóa của môi trường như ánh nắng và các chất ô nhiễm.

Uống nhiều đồ uống có cồn cũng khiến làn da mỏng hơn, do vậy khi nhìn gần sẽ dễ thấy những mạch máu dưới da.

  1. Tấn công não bộ và thần kinh

Khi đang âu sầu, nhiều người thường hay tìm đến rượu, có thể nhất thời rượu giúp bạn giải sầu, nhưng cuối cùng nó càng khiến bạn phiền não thêm. Nhưng thực tế là uống rượu thường xuyên có liên quan với trầm cảm, lo âu và nhiều vấn đề tinh thần khác. Gần 1/3 các ca tự tử là có liên quan đến rượu.

Khi bạn uống rượu, chất cồn nhanh chóng xâm nhập não bộ, làm biến đổi não bộ, và tổn thương này là không thể đảo ngược.

Cồn ảnh hưởng đến những chất dẫn truyền thần kinh, theo chiều hướng khiến người đó ngày càng trở nên lo âu, trầm cảm, căng thẳng và đặc biệt là tính cách xấu xa hơn.

  1. Vấn đề tim mạch

Cồn là chất độc và có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ tim. Do vậy khi một người uống rượu, tế bào cơ tim chết, và thay vào đó là mô xơ không có khả năng co bóp. Dần dần, các tế bào cơ tim bị thay thế bằng mô xơ không co bóp được, khiến tim yếu và không đủ khả năng tống máu đi nuôi cơ thể.

Tồi tệ hơn, bạn có thể bị suy tim, biểu hiện khó thở, mệt mỏi, loạn nhịp tim, và phù chân. Tuy vậy tim bạn có khả năng tự sửa chữa và bù trừ tốt, nhưng nếu uống rượu thường xuyên, thì chính bạn đang làm tan nát trái tim mình.

Tùy thuộc và cơ địa của mỗi người, nhưng nhìn chung thì uống hơn 1.2 lít rượu mỗi tuần đối với phụ nữ và 1.8 lít mỗi tuần đối với nam giới sẽ gây tổn thương cơ tim

Những cuộc chè chén say sưa cũng làm tăng khả năng cao huyết áp. Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ lớn của đột quỵ và nhồi máu cơ tim.

Uống rượu cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ, do vậy càng làm tăng huyết áp. Những người uống nhiều rượu bia cũng thường có lối sống không lành mạnh, nên càng dễ mắc bệnh tim mạch.

  1. Tăng nguy cơ mắc bệnh thận

Thường xuyên uống nhiều rượu làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận lên gấp đôi, theo Tổ chức Thận Anh Quốc.

Thận lọc và thải chất độc ra khỏi dòng máu, rượu làm suy giảm khả năng thực hiện chức năng này của thận. Đồng thời uống nhiều rượu làm tăng huyết áp, một nguyên nhân phổ biến của bệnh thận.

Chỉ cần một lần quá chén cũng có thể gây suy thận cấp, một tình trạng chức năng thận mất đột ngột, do lượng cồn trong máu tăng quá nhanh. Chức năng thận có thể phục hồi những cũng có thể để lại tổn thương mãi mãi.

  1. Viêm tụy

Tụy có hai chức năng nội tiết và ngoại tiết. Nó tiết các enzyme tiêu hóa và gửi đến ruột non giúp cơ thể chuyển hóa thức ăn, đó là chức năng ngoại tiết. Chỉ khi đến ruột các enzyme này mới được hoạt hóa thực hiện chức năng của mình.

Nhưng khi uống rượu bia, cồn làm rối loạn quá trình này, các enzyme bị hoạt hóa và thực hiện chức năng ngay khi còn ở trong tụy, do đó gây viêm tụy. Các triệu chứng viêm tụy bao gồm đau bụng, có thể đau dữ dội, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, sốt.

Một người có thể bị viêm tụy cấp (sau bữa rượu và có triệu chứng nói trên), hay viêm tuy mãn, tức là tụy bị phá hủy từ từ, dẫn đến đái tháo đường và cuối cùng là tử vong.

  1. Loãng xương

Uống rượu thường xuyên gây loãng xương, làm xương mỏng, yếu và dễ gãy hơn, đồng thời cũng lâu liền hơn nếu bị gãy.

Trong cơ thể luôn xảy ra quá trình hủy xương và tân tạo xương, có sự cân bằng nhất định giữa hai quá trình này. Cồn trong rượu bia ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái tạo xương, ức chế sự tân tạo, do đó làm cán cân nghiêng về bên hủy xương.

Uống rượu cũng là một một trong những yếu tố được dùng để đánh giá nguy cơ gãy xương. Không phải do say xỉn ngã gẫy xương mà vì nó liên quan đến quá trình tạo xương như nói ở trên.

Ngoài ra, những người thường uống rượu cũng hay bị sai lệch trong chế độ dinh dưỡng (có thể uống nhiều mà ăn ít, hoặc ăn nhiều một số loại đồ ăn khoái khẩu), nên góp phần làm xương yếu và dễ vỡ hơn.

Chưa kể đến các vấn đề nhức nhối hiện nay là rượu giả, rượu lậu hoành hành, tác hại đủ đường… vậy nên bạn cân nhắc ít nhất 3 lần trước khi uống nhé.

Minh Hải

TĐMVSK sưu tầm 

 

Mộc nhĩ (Nấm mèo) rất tốt cho sức khoẻ

MỘC NHĨ (NẤM MÈO) RẤT TỐT CHO SỨC KHOẺ

Mộc nhĩ hay còn gọi là nấm mèo, thường sử dụng trong những ngày Tết. Là thực phẩm có chứa các chất chống ung thư, bảo vệ tim mạch, tốt cho đại tràng và gan thận, nhưng nếu sử dụng không đúng cách thì sẽ gây ra ngộ độc, phù nề, hoại tử da…

Mộc nhĩ là loại nấm phổ biến, thường mọc ở nơi đất ẩm, trên gỗ mục. Trong mộc nhĩ có nhiều dinh dưỡng tốt cho cơ thể như: Lipid, protid, glucid, chất xơ,β-Carotene, vitamin B1, B2, và P, Ca, Fe. Mộc nhĩ có tác dụng tốt cho người khí huyết kém, có tác dụng chống đông máu, tim mạch, giảm mỡ máu, chống ung thư.

Theo Đông y, nấm mèo vị ngọt, tính bình, đi vào các kinh tỳ vị, đại tràng, can, thận. Tác dụng làm lương huyết (mát máu), chỉ huyết (ngừng chảy máu do va đập, trấn thương). Chữa trị các bệnh trường phong hạ huyết, nhuận táo, lợi trường vị, lỵ ra máu, tiểu dắt, tiểu ra máu, trị lở, bổ khí, bền cơ, hoạt huyết.

Mộc nhĩ chứa nhiều dinh dưỡng tốt cho sức khỏe.

Cách sử dụng mộc nhĩ an toàn

Nhiều người thường ngâm mộc nhĩ vào nước nóng cho nhanh nở, nhưng đó là một sai lầm, tuyệt đối không được làm. Trong mộc nhĩ còn sót lại các morpholine là chất độc, nên cần phải ngâm trong nước lạnh để chất độc này có thể hòa tan vào nước. Chỉ ngâm trong vòng 3-4 tiếng trong nước lạnh, không nên ngâm qua đêm, mộc nhĩ sẽ biến chất, gây ngộ độc.

Hạn chế sử dụng mộc nhĩ tươi, trong mộc nhĩ tươi chứa nhiều morpholine nhạy cảm với ánh sáng, nếu sau khi ăn mộc nhĩ tươi mà tiếp xúc với ánh sáng, da sẽ bị gây ngứa, phù nề, trường hợp trầm trọng còn dẫn đến hoại tử da, nếu phù nề ở trong màng nhầy cổ, sẽ gây khó thở.

Dị ứng vì sử dụng mộc nhĩ không đúng cách. (Ảnh: Hello Doktor)

Tác dụng của mộc nhĩ:

  1. Mộc nhĩ chống viêm:Khoa học nghiên cứu cho thấy, polysaccharides có trong mộc nhĩ  có hoạt tính kháng viêm, tương ứng với việc sử dụng mộc nhĩ trong cho việc giảm nhẹ tình trạng viêm hay bị kích thích của viêm mạc.
  2. Mộc nhĩ giảm cholesterol:Polysaccharides trong nấm này đã được chứng minh để giảm mức độ cholesterol trong máu (TC), mức độ triglyceride và cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol (LDL-c), HDL-cholesterol (HDL-c) trong máu, cũng như tỷ lệ HDL/TC và HDL/LDL.
  3. Nấm mộc nhĩ tốt cho xương:Loại nấm này chứa hàm lượng cao protit, lipid, glucid, canxi, photpho, sắt, chất xơ và các vitamin nên rất tốt cho xương. Các nhà khoa học khuyến cáo nên dùng mộc nhĩ đen cho trẻ em để phát triển hoàn thiện về vóc dáng; dùng cho các bệnh nhân có bệnh về xương, khớp, giúp xương chắc khỏe.
  4. Mộc nhĩ bảo vệ tim mạch:Cùng với đặc tính chống oxy hóa nói chung polysaccharides trong loại nấm này cho thấy hiệu quả cao trong bảo vệ tim mạch, đặc biệt là ở những người cao tuổi, tăng cường hoạt động của chất chống oxy hóa superoxide dismutase và giảm lipid peoxy hóa. Một số bằng chứng cho thấy uống thường xuyên loại nấm này ở liều lượng nhỏ có thể tác dụng trong việc ngăn ngừa và điều trị bệnh đột qụy và đau tim.

Mộc nhĩ cải thiện vóc dáng, giúp chắc khỏe xương.

Món ăn trị bệnh từ mộc nhĩ

  1. Chữa mỡ máu cao, chống nghẽn mạch:Dùng nấm mèo (10g), thịt lợn nạc (50g), 5 quả táo tàu đen, 3 lát gừng, đổ vào 6 chén nước, sắc chỉ còn 2 chén, thêm vào ít muối, tí bột ngọt, rồi ăn như canh, mỗi ngày 1 lần, ăn liên tục hằng ngày.
  2. Chữa hư lao khạc ra máu:Nấm mèo (50g), nấu nhừ, thêm đường phèn, ăn thường xuyên, hoặc xào chín ăn.
  3. Chữa đại tiểu tiện ra máu:Nấm mèo (50g), sao thán tồn tính, tán nhuyễn để uống.
  4. Chữa tăng huyết áp, bệnh mạch vành:Nấm mèo (10g), ngân nhĩ (10g), ninh nhừ nêm đường phèn vừa đủ, ăn trước khi ngủ.

Món ăn từ mộc nhĩ giúp hạ huyết, nhuận táo, lợi trường vị.

  1. Chữa trĩ ra máu:Nấm mèo (10g), quả hồng khô (30g), cùng nấu nhừ để ăn.
  2. Hồng táo mộc nhĩ tiễn:Mộc nhĩ 20g, đại táo 5 quả. Các vị nấu chín nhừ; thêm đường liều lượng thích hợp, đun sôi để nguội. Dùng thích hợp cho người huyết hư thiếu máu, kinh nguyệt không đều, huyết trắng, khí hư.
  3. Mộc nhĩ chữa chảy nước mắt liên tục, đau mắt sưng đỏ:40g mộc nhĩ, 40g cây mộc tặc, 75g gan heo (hoặc gan dê). Nướng mộc nhĩ, phơi khô mộc tặc, nghiền nát 2 nguyên liệu rồi trộn vào nhau, mỗi lần dùng 10g, chưng với gan heo.
  4. Mộc nhĩ chữa kiết lỵ, đau lưng:50g mộc nhĩ, 1 ít muối và giấm. Ngâm mộc nhĩ trong nước rồi rửa sạch. Cho mộc nhĩ vào 2 chén rưới nước, nấu chín. Cho thêm muối và giấm vào, dùng 2 lần mỗi ngày.

Món ăn từ mộc nhĩ, thực phẩm bổ dưỡng từ thiên nhiên.

  1. Trị thận hư, chóng mặt, run rẩy, đau tức ngực:15g mộc nhĩ, 15g ngân nhĩ, 15 trái táo khô, đường phèn đủ dùng. Cho mộc nhĩ, táo đã ngâm vào tô, rồi thêm đường phèn, đem chưng cách thủy khoảng 1 tiếng, dùng 2 lần mỗi ngày.

Lưu ý: Bài thuốc này người bị phù đầu, nặng đầu và các bệnh liên quan không nên dùng.

  1. Thịt lợn hầm mộc nhĩ nấm hương:Thịt lợn nạc 100g, nấm hương 30g, mộc nhĩ 30g, nước luộc gà 1 lít, thêm gia vị thích hợp; hầm nhừ. Món này rất tốt cho người tăng huyết áp, mỡ máu cao, xơ cứng động mạch; ngoài ra còn dùng điều trị bổ trợ cho các trường hợp u bướu. Lưu ý: Bài thuốc này người tỳ vị hư nên hạn chế dùng.
  2. Chữa đại tiện không thông:Nấm mèo (30g), hải sâm (30g), phèo lợn (200g). Phèo rửa sạch, cắt đoạn nhỏ, cùng nấm mèo, hải sâm nấu chung, sau khi nêm nếm gia vị thì dùng.

Lưu ý: Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú không nên sử dụng, cũng như người có ý định mang thai. Vì mộc nhĩ có tính hàn trợ, nên không tốt cho người có máu mang tính lạnh, và dễ gây sảy thai.

Lê Vân

TĐMVSK sưu tầm